vanban.org

Bản án 102/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 05/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 46, Điều 48, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Vòng N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”; Xử phạt bị cáo Vòng N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 05/7/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "VÒNG N - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 46, Điều 48, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 102/2023/HS-ST
Ngày: 05 – 7 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Huỳnh Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh

2/ Ông Đặng Minh Lý

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Kim Thoa là Thƣ ký của Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hai - Kiểm sát viên.

Vào ngày 05 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 106/2023/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Vòng N, sinh năm 1984 tại Đ; nơi thƣờng trú: khu phố 3A, phƣờng T, thị xã B, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vòng Lỷ N (đã chết) và bà Hong Tài M; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Trần Thị Kim H, sinh năm: 1991; nơi cƣ trú: Ấp 6, xã H, huyện X, tỉnh B là ngƣời đại diện theo ủy quyền của ông Trần Ngọc Ng và bà Nguyễn Thị T là cha và mẹ ruột của Trần Ngọc Đ (đã chết ngày 12/10/2020), vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vòng N là ngƣời có Giấy phép lái xe hạng B2, số 790158083159, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 30/9/2019, có giá trị đến ngày 30/9/2029.

Trần Ngọc Đ, sinh năm 1989, cƣ trú tại ấp 6, xã H, huyện X, tỉnh B là ngƣời có Giấy phép lái xe hạng A1, số 790189153942, do Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/8/2018, có giá trị đến không thời hạn.

Khoảng 14 giờ ngày 12/10/2022, Vòng N điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Tucson 2.0, loại 05 (năm) chỗ, màu trắng, biển số 61K-078.56 đi từ huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh về Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Mỹ Lệ H (gọi tắt là Công ty Mỹ Lệ H), địa chỉ tại phƣờng T, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dƣơng. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Vòng N điều khiển xe ô tô, biển số 61K-078.56 lƣu thông trên đƣờng Mỹ Phƣớc-Tân Vạn theo hƣớng từ giao lộ đƣờng Mỹ Phƣớc-Tân Vạn và đƣờng ĐX082 về hƣớng giao lộ đƣờng Mỹ Phƣớc-Tân Vạn và đƣờng Phạm Ngọc Thạch; khi Vòng N điều khiển xe ô tô đi đến gần giao lộ đƣờng Mỹ Phƣớc-Tân Vạn và đƣờng (không tên), đoạn qua khu phố 1, phƣờng Đ, thành phố T, tỉnh B thì Vòng N điều khiển xe ô tô lƣu thông trên làn đƣờng dành cho xe ô tô tải (làn đƣờng ở giữa) với tốc độ khoảng 50km/h và bật đèn tín hiệu chuyển hƣớng bên phải rồi điều khiển xe ô tô chuyển sang làn đƣờng dành cho xe mô tô và tấp vào lề đƣờng để đi vệ sinh. Cùng lúc này, anh Trần Ngọc Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, dung tích 109cm3, màu đen-cam, biển số 61C1-631.89 lƣu thông cùng chiều phía sau bên phải đến. Do Vòng N điều khiển xe ô tô, biển số 61K-078.56 chuyển làn đƣờng nhƣng không đảm bảo an toàn nên đã để phần phía trƣớc bên phải xe ô tô, biển số 61K-078.56 va chạm vào phần phía trƣớc bên trái đầu xe mô tô, biển số 61C1-631.89 do anh Đ điều khiển làm cho anh Đ và xe mô tô, biển số 61C1-631.89 ngã xuống đƣờng. Hậu quả: Anh Đ bị thƣơng tích nặng nên đƣợc Vòng N cùng ngƣời dân đƣa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dƣơng cấp cứu và điều trị, nhƣng do thƣơng tích quá nặng nên anh Đ đã tử vong ngay sau đó.

* Căn cứ Biên bản khám nghiệm hiện trƣờng và Sơ đồ hiện trƣờng vụ tai nạn giao thông đƣợc lập vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 12/10/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định nhƣ sau:

- Hiện trƣờng của đoạn đƣờng nơi xảy ra tai nạn là khu vực giao lộ đƣờng Mỹ Phƣớc-Tân Vạn và (đƣờng không tên), đƣợc trải nhựa bằng phẳng, không có hệ thống đèn tín hiệu giao thông. Đoạn đƣờng Mỹ Phƣớc-Tân Vạn tại đây là đƣờng thẳng, hai chiều phân biệt bởi dãy phân cách cố định có trồng cây xanh. Mỗi phần đƣờng đƣợc chia làm 03 làn đƣờng tính từ dãy phân cách vào lề có chiều rộng lần lƣợt là: 04m00, 03m80 và 03m60. Tầm nhìn không bị hạn chế.

- Lấy mép lề phải đƣờng Mỹ Phƣớc-Tân Vạn hƣớng từ đƣờng ĐX082 về hƣớng đƣờng Phạm Ngọc Thạch làm mép chuẩn và lấy trụ đèn chiếu sáng số 03/24 trên dãy phân cách đƣờng Mỹ Phƣớc-Tân Vạn làm mốc cố định.

- Xe ô tô con biển số 61K-078.56 (1) đỗ trên làn đƣờng xe mô tô phần đƣờng bên phải đƣờng Mỹ Phƣớc-Tân Vạn tại giao lộ, đầu xe quay hƣớng chéo về lề phải đƣờng Mỹ Phƣớc-Tân Vạn hƣớng về giao lộ đƣờng Mỹ Phƣớc-Tân Vạn và đƣờng Phạm Ngọc Thạch. Vị trí tâm đầu trục bánh trƣớc bên phải cách mép chuẩn là 03m05; tâm đầu trục bánh sau bên phải cách mép chuẩn là 04m05, cách mốc cố định là 20m80, cách mép lề phải đƣờng không tên hƣớng từ đƣờng Mỹ Phƣớc-Tân Vạn về hƣớng Quốc lộ 13 là 12m60.

- Xe mô tô hai bánh biển số 61C1-631.89 (2) ngã sang phải trên phần đƣờng bên phải đƣờng Mỹ Phƣớc-Tân Vạn, đầu xe quay hƣớng vào dãy phân cách giữa đƣờng. Vị trí tâm trục bánh trƣớc cách mép chuẩn là 02m70, cách tâm trục bánh trƣớc bên phải xe ô tô (1) là 03m90; tâm trục bánh sau cách mép chuẩn là 01m70.

- Vết nhớt (3) kích thƣớc (20 x 30) cm trên mặt đƣờng Mỹ Phƣớc-Tân Vạn; tâm vết cách bánh sau phải xe mô tô (2) là 00m70, cách mép chuẩn là 01m90.

* Căn cứ Biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đƣợc lập vào lúc 15 giờ ngày 13/10/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định dấu vết trên xe ô tô biển số 61K-078.56 nhƣ sau: Ốp ngoài viền khung bánh trƣớc, cửa trƣớc, cửa sau bên phải xe có vết trầy xƣớc, tróc sơn, thụng móp, dính chất màu đen diện rộng kích thƣớc (125 x 85) cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 35cm, chiều hƣớng từ sau về trƣớc. Gƣơng chiếu hậu bên phải gãy, vỡ. Tay nắm cửa trƣớc phải rơi, mặt ngoài có vết cọ xát màu đen. Ốp viền cửa trƣớc phải gãy, rơi, vỡ nhựa. Mặt ngoài mâm và lốp bánh trƣớc phải có vết cọ xát kích thƣớc (40 x 15) cm chiều hƣớng từ trong ra ngoài.

* Căn cứ Biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đƣợc lập vào lúc 15 giờ 40 phút ngày 13/10/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định dấu vết trên xe ô tô biển số 61K-078.56 nhƣ sau: Mặt trƣớc tay nắm tay lái bên trái có vết cọ xát rách cao su dính chất màu trắng cao cách mặt đất 95cm. Mặt trƣớc kính chiếu hậu bên trái có vết trầy xƣớc cao cách mặt đất 105cm. Ốp nhựa đầu xe vỡ. Mặt bên trái và chắn bùn bánh trƣớc trầy xƣớc dính chất màu đen-trắng kích thƣớc (35 x 15) cm, cách mặt đất 50cm. Vỡ ốp phuộc trƣớc trái, mặt ngoài có vết cọ xát dính chất màu trắng kích thƣớc (30 x 03) cm, cách mặt đất 20cm. Đầu gác chân trƣớc trái rách cao su. Vành bánh trƣớc biến dạng, mặt trái lốp có vết cọ xát kích thƣớc (30 x 05) cm. Mặt trái tay nắm sau yên xe có vết cọ xát. Ốp đầu phải ngay tay lái vỡ nhựa, có vết mài mòn dính nhựa đƣờng. Vỡ cánh bửng phải.

* Căn cứ Kết luận giám định số 470/KL-KTHS (CH) ngày 27/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận nhƣ sau:

1. Dấu vết va chạm giữa các phƣơng tiện là:

- Dấu vết trƣợt trƣớc xƣớc rách cao su, bám dính chất màu trắng (dạng sơn) ở mặt trƣớc đầu tay lái trái xe mô tô biển số 61C1-631.89, có chiều hƣớng từ trƣớc ra sau phù hợp với dấu vết trƣợt xƣớc, bám dính chất màu đen (dạng cao su), hằn kim loại ở mặt ngoài cửa trƣớc bên phải xe ô tô biển số 61K-078.56, có chiều hƣớng từ sau về trƣớc.

- Dấu vết trƣợt xƣớc sơn màu đen ở cạnh trƣớc đầu bửng chắn gió bên trái và trƣợt xƣớc sơn màu cam ở mặt ngoài ốp nhựa và phuộc trƣớc bên trái xe mô tô biển 61C1-631.89, có chiều hƣớng từ trƣớc ra sau phù hợp với dấu vết trƣợt xƣớc, bám dính chất màu đen, cam (dạng sơn) ở mặt ngoài đầu dƣới cửa trƣớc bên phải xe ô tô biển số 61K-078 56, có chiều hƣớng từ sau về trƣớc.

2. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa hai phƣơng tiện là: Phần phía trƣớc bên trái xe mô tô va chạm vào phần phía trƣớc bên phải xe ô tô con theo hƣớng từ sau về trƣớc (nhƣ mục 1) làm xe mô tô đổ ngã sang phải va chạm với mặt đƣờng, tạo ra dấu vết trên phƣơng tiện.

3. Vị trí va chạm giữa hai phƣơng tiện chiếu xuống mặt đƣờng là: Khu vực bên phải xe ô tô con tại hiện trƣờng.

* Căn cứ Kết luận giám định Pháp y tử thi số 1059/GĐPY ngày 14/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: Nguyên nhân chết của bị hại Trần Ngọc Đ là do đa chấn thƣơng.

Bản cáo trạng số 105/CT-VKSTDM-HS ngày 16-6-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã truy tố bị cáo Vòng N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

a) Về trách nhiệm hình sự:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

+ Xử phạt bị cáo Vòng N mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

b) Xử lý vật chứng: Đối với Giấy phép lái xe hạng B2, số 790158083159, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 30/9/2019, có giá trị đến ngày 30/9/2029 của Vòng N, Viện kiểm sát nhân thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định trả lại cho Vòng N.

c) Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo pháp luật của bị hại không yêu cầu gì thêm đối với bị cáo Vòng N nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung bản cáo trạng, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về phần hình phạt và các vấn đề khác đối với bị cáo. Bị cáo không tranh luận và không tự bào chữa. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức đƣợc hành vi vi phạm pháp luật của mình, xin giảm nhẹ hình phạt, hứa cải sửa bản thân và không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo Vòng N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan, lời khai của những ngƣời làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định nên có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 12/10/2022, bị cáo Vòng N điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Tucson 2.0, màu trắng, biển số 61K-078.56 lƣu thông trên đƣờng Mỹ Phƣớc-Tân Vạn đến giao lộ với đƣờng (không tên), đoạn qua khu phố 1, phƣờng Đ, thành phố T, tỉnh B. Tại đây bị cáo Vòng N điều khiển xe ô tô chuyển làn đƣờng nhƣng không quan sát nên đã để phần phía trƣớc bên phải xe ô tô, biển số 61K-078.56 va chạm vào phần phía trƣớc bên trái đầu xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, dung tích 109cm, màu đen-cam, biển số 61C1- 631.89 do Trần Ngọc Đ điều khiển, dẫn đến hậu quả làm cho Trần Ngọc Đ bị chết do đa chấn thƣơng là vi phạm khoản 1 Điều 13 Luật Giao thông đƣờng bộ và quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã truy tố đối với bị cáo N là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, đƣợc cấp giấy phép lái xe theo quy định, biết rõ các quy định về trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ nhƣng không nghiêm chỉnh chấp hành, khi điều khiển xe không giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trƣớc xe của mình và thiếu quan sát khi chuyển hƣớng dẫn đến tai nạn. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm những quy định của Nhà nƣớc về an toàn, trật tự công cộng, tƣớc đi mạng sống của ngƣời khác, gây đau thƣơng, mất mát cho gia đình nạn nhân, ảnh hƣởng xấu đến trật tự, an toàn giao thông tại địa phƣơng, lỗi của bị cáo là lỗi vô ý vì cẩu thả, do đó cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã bồi thƣờng toàn bộ cho gia đình bị hại và gia đình bị hại đã bãi nại cho bị cáo; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo N có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự, có nơi cƣ trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nên việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hƣởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ–HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo cho bị cáo N đƣợc hƣởng án treo.

Từ những nhận định nêu trên, xét thấy việc Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo N là phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thƣờng cho gia đình bị hại số tiền 335.000.000 đồng và đại diện bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra.

- Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Tucson 2.0, loại 05 (năm) chỗ, màu trắng, biển số 61K-078.56, quá trình điều tra, xác định: Xe ô tô trên là của Vòng N đƣợc cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe. Ngày 10/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 146 để giao trả xe ô tô trên cho Vòng N là phù hợp nên không đặt ra.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đen-cam, biển số 61C1-631.89, quá trình điều tra, xác định: Xe mô tô trên là tài sản của Trần Ngọc Đ. Ngày 10/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 147 để giao trả xe mô tô trên cho đại diện bị hại là Trần Thị Kim H là phù hợp nên không đặt ra.

- Đối với Giấy phép lái xe hạng B2, số 790158083159, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 30/9/2019, có giá trị đến ngày 30/9/2029 mang tên Vòng N. Do bị cáo không thuộc trƣờng hợp cấm hành nghề lái xe nên cần giao trả lại cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điều 106, 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 46, Điều 48, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ–HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết 01/2022/NQ–HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 02/2018/NQ–HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Vòng N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”;

- Xử phạt bị cáo Vòng N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 05/7/2023).

- Giao bị cáo Vòng N cho Ủy ban nhân dân phƣờng T, thị xã B, tỉnh B giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Vòng N cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

2. Xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo Vòng N 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2, số 790158083159, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Bình Dƣơng, cấp ngày 30/9/2019, có giá trị đến ngày 30/9/2029 mang tên Vòng N.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 110.23 ngày 19/6/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một và Chi cục thi hành án dân sự Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí: Bị cáo Vòng N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ