- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần văn C tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N1 TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2023/HS-ST Ngày: 18 – 05 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N1 TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nguyên Vũ
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Điệp
2. Ông Hoài Đức Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc - Thư ký tòa án nhân dân huyện N1, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N1, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Hương Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 05 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N1, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 89/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Văn C, sinh năm 1982, tại tỉnh C; Hộ khẩu thường trú: Khu vực L, phường T, quận N, thành phố C; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc Th, sinh năm 1944 và bà Lê Thị L, sinh năm 1952; sống chung vợ chồng với Trần Thị Ngọc M, sinh năm 1975 có 01 con sinh năm 2003; tiền án; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 16/12/2022, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diển biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Trần Văn C đã nhờ B (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua giùm cho C 150.000 đồng ma túy đá. B hẹn C đến khu vực C1 thuộc ấp G, xã P, huyện N1, tỉnh Đồng Nai để lấy ma túy. Vào khoảng 22 giờ ngày 15/12/2022, C điều khiển xe mô tô Wave màu xanh, biển kiểm soát 66N1 đến điểm hẹn mua của một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy với giá 150.000 đồng, rồi cất giấu vào túi quần bên phải. Đến 20 giờ 20 phút cùng ngày, khi C đang đi trên đường V thuộc ấp B, xã P, huyện N1, tỉnh Đồng Nai thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
* Vật chứng thu giữ: 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, đã được hàn kín hai đầu, dài khoảng 2,5 cm (Đã được niêm phong); 01 xe mô tô Wave màu xanh, biển kiểm soát 66N1 (C mua lại của ông Lê Minh S); 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen bạc và 1.000.000 đồng là tài sản của C không dùng vào việc phạm tội.
Tại Kết luận giám định số 2725/KL-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1549 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,1166 gam”.
Quá trình điều tra, bị can Trần Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung đã nêu trên và phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập có tại hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 87/CT.VKS-NT ngày 06/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện N1, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N1 vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Văn C từ 12 đến 14 tháng tù.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định (được niêm phong số 2725/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai); Trả lại Trần Văn C 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen bạc và số tiền 1.000.000 đồng do không liên quan đến vụ án; Tịch thu sung công nhà nước 01 xe mô tô Wave màu xanh, biển kiểm soát 66N1là phương tiện mà C đã sử dụng để đi mua ma túy.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn C không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện N1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N1, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo Trần Văn C (sinh ngày 10/03/1982) có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thừa nhận: Vào khoảng 22 giờ ngày 15/12/2022, C điều khiển xe mô tô Wave màu xanh, biển kiểm soát 66N1đến khu vực C1 thuộc ấp G, xã P, huyện N1, tỉnh Đồng Nai mua của một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy với giá 150.000 đồng, rồi cất giấu vào túi quần. Đến 20 giờ 20 phút cùng ngày, khi C đang đi trên đường V thuộc ấp B, xã P, huyện N1, tỉnh Đồng Nai thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 2725/KL-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy có khối lượng 0,1549 gam, loại Methamphetamine.
Lời thừa nhận của bị cáo Trần Văn C phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Cho thấy lượng ma túy bị cáo Trần Văn C tàng trữ, theo Kết luận giám định số: 2405/KL-KTHS ngày 16/11/2022 có khối lượng: 0,1549 gam, loại Methamphetamine (khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam) và hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn C đã được thực hiện xong.
Nên có đủ căn cứ kết luận: Hành vi của bị cáo Trần Văn C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N1 truy tố bị cáo Trần Văn C là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tiền án; tiền sự.
Tội phạm do bị cáo Trần Văn C thực hiện là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần thiết áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của chính sách pháp luật hình sự.
Xét lời luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt là phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
. Về xử lý vật chứng:
+ Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định có khối lượng: 0,1166 gam (đã được niêm phong số 2575/KL-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai), Trần Văn C đã tàng trữ trái phép là công cụ dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen bạc và số tiền 1.000.000 đồng của Trần Văn C, do không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo là thỏa đáng.
- 01 xe mô tô Wave màu xanh, biển kiểm soát 66N1-089.85 của bị cáo Trần Văn C, bị cáo sử dụng để đi mua ma túy, là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước là có căn cứ.
Đối với người đàn ông tên B đã gọi điện hỏi mua ma túy giùm cho C và nam thanh niên đã bán ma túy cho C nhưng hiện chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N1 sẽ tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau là có cơ sở.
. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính tù ngày 16/12/2022.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
+ Tịch thu 0,1166 gam ma túy, loại Methamphetamine (đã được niêm phong số 2575/KL-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai) tiêu hủy.
- Trả 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen bạc và số tiền 1.000.000 đồng cho bị cáo Trần Văn C.
- Tịch thu 01 xe mô tô Wave màu xanh, biển kiểm soát 66N1sung quỹ nhà nước.
(Theo biên bản thu tiền vào giao, nhận vật chứng cùng ngày 11/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N1).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận - TA tỉnh - VKS, THA, CA - Bị cáo; - Lưu HS, VP | Trần Nguyên Vũ |