vanban.org

Bản án 102/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 20/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Võ Tùng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt Võ Tùng L 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 01/3/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm đối với Võ Tùng L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2023/HS-ST
Ngày: 20/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đức Thúy

Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Công Hải và ông Nguyễn Hồng Thông.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Võ Thị Kim Dung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: - ông Đặng Hồng Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 20/7/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2023/TLST - HS ngày 02/6/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2023/QĐXXST – HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Tùng L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 01/02/1991, tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Họ và tên cha: Võ Văn N - Sinh năm: 1967; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị L1 - Sinh năm: 1971; Vợ: Hoàng Thị L2 – Sinh năm: 1992 (Đã ly hôn); Con: Có 01 người con, sinh năm 2016; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị can bị bắt, tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 01/3/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 01/3/2023, Võ Tùng L bắt xe khách từ xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An xuống khu vực thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An để mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực Ngã ba D, L gặp một người đàn ông tên N1 không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể và hỏi “Anh có không để cho em cái năm trăm”, nghĩa là L hỏi N1 có ma túy loại Heroine không bán cho L 01 (Một) gói với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). N1 đồng ý nên L đưa cho N1 số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). N1 cầm tiền và lấy từ trong túi quần ra 01 (Một) bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong có chứa 01 (Một) gói giấy màu trắng được quấn bên ngoài bằng băng keo màu xanh, bên trong gói giấy màu trắng có chứa chất bột màu trắng rồi đưa cho L. L cầm bao thuốc lá chứa gói ma túy trên ở lòng bàn tay trái rồi đi bộ đến con đường đất tiếp giáp bờ tường phía bắc trường Mầm non D để sử dụng thì bị lực lượng Công an xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An phát hiện, bắt quả tang. Khi thấy lực lượng Công an, L bỏ chạy được khoảng 03 (Ba) mét rồi thả từ lòng bàn tay trái xuống nền đường đất bao thuốc lá chứa gói ma túy trên. Sau đó, L tiếp tục bỏ chạy được khoảng 10 (Mười) mét thì bị lực lượng Công an bắt giữ đồng thời đã phát hiện, thu giữ tại nền đường đất tiếp giáp bờ tường phía bắc trường Mầm non D (Một) bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong có chứa 01 (Một) gói giấy màu trắng được quấn bên ngoài bằng băng keo màu xanh, bên trong gói giấy màu trắng có chứa ma túy mà L vừa thả xuống. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng rồi dẫn giải Võ Tùng L về trụ sở để tiếp tục điều tra, làm rõ.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 01/3/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện D và tại bản Kết luận giám định số 282/KL-KTHS (Đ2- MT) ngày 07/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

+ Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Võ Tùng L gửi giám định là ma túy; Loại H (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

+ Số chất bột màu trắng thu giữ của Võ Tùng L có khối lượng là 0,2 gam (Không phẩy hai gam).

Tại bản cáo trạng số 71/CT-VKS-DC ngày 26/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố Võ Tùng L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Võ Tùng L mức hình phạt từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật; Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau khi giám định.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện D, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 12 giờ 15 phút ngày 01/3/2023, tại khu vực trường Mầm non D thuộc xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Tổ công tác Công an xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An phát hiện, bắt quả tang Võ Tùng L đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,2 gam ma túy (Heroine). Số ma túy này, L mua với giá 500.000 đồng với mục đích để sử dụng. Hành vi này của bị cáo Võ Tùng L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý; gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội; vì vậy cần xét xử nghiêm minh và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo,tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo có thành tích trong quá trình hoạt động tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không

. Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có việc làm, không có tài sản nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Số ma tuý còn lại sau khi giám định là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

- Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố bị cáo Võ Tùng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Võ Tùng L 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 01/3/2023).

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ một phong bì thư niêm phong theo quy định, bên trong chứa vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định.

(Số vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục THADS huyện D theo Phiếu nhập kho số NK0101 ngày 29/5/2023 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/5/2023)

3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ