vanban.org

Bản án 102/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 25/01/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ DẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2023/DS-ST
Ngày: 18-8-2023
V/v: Tranh chấp dân sự về
hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Ninh;

2. Ông Hồ Huy Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham

gia phiên tòa: Ông Trần Minh Tân – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh

Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2023/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 7 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 45A/2023/QĐST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Ấp 4, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Phạm Hoàng H, sinh năm: 1982

Địa chỉ: Ấp 4, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/01/2023 và các lời khai trong quá trình giải

quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày:

Vào ngày 30/6/2022 chị có cho anh Phạm Hoàng H vay số tiền 20.000.000

đồng bằng hình thức chuyển khoản, không có làm giấy tờ gì cả, anh H làm nghề hướng dẫn viên du lịch nên anh H mượn với mục đích là đặt vé máy bay cho khách, mượn hứa 2 ngày sau sẽ trả nhưng sau đó thì không thấy trả. Chị có nhắn tin đòi nhiều lần nhưng anh H vẫn cứ hứa mà không trả. Hai bên trao đổi với nhau bằng hình thức nhắn tin trên điện thoại. Đến ngày 07/12/2022 anh H có hứa là sẽ trả cho chị tổng cộng 25.000.000 ( bao gồm 20.000.000 tiền gốc và 5.000.000 đồng tiền lãi ). Chị có đến nhà anh H đòi tiền thì hai bên có xảy ra gây gỗ với nhau. Và từ thời gian đó đến nay vẫn không thấy anh H trả. Ngày 18/01/2023 chị có làm đơn khởi kiện yêu cầu anh Phạm Hoàng H có trách nhiệm trả cho chị số tiền 25.000.000 đồng (bao gồm 20.000.000 tiền gốc và 5.000.000 đồng tiền lãi). Nhưng trong quá trình làm việc chị thay đổi yêu cầu khởi kiện, chị yêu cầu anh H có trách nhiệm trả cho chị số tiền gốc là 20.000.000 đồng, chị không yêu cầu tính lãi.

Đối với bị đơn – anh Phạm Hoàng H:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý, thông báo kiểm

tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng anh H không đến để trình bày theo yêu cầu của Tòa án cũng như không tham dự phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử mặc dù qua xác minh, chính quyền địa phương và gia đình anh H cung cấp anh vẫn còn hộ khẩu ở địa phương nhưng anh cố tình vắng mặt không lý do. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây

Ninh phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm

phán, thư ký và Hội đồng xét xử: Thẩm phán, thư ký thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, vụ án thụ lý ngày 17/3/2023 nhưng đến ngày 07/7/2023 mới ra quyết định đưa vụ án ra xét xử là vi phạm theo quy định tại Khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn

chị Nguyễn Thị Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Phạm Hoàng H đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh H là đúng theo quy định của pháp luật

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự,

đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T đối với bị đơn anh Phạm Hoàng H, buộc anh H có trách nhiệm trả cho chị T số tiền 20.000.000 đồng. Ghi nhận chị T không yêu cầu tính lãi suất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại

phiên tòa và căn cứ vào ý kiến trình bày của đương sự, phát biểu của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thanh T khởi kiện anh Phạm

Hoàng H trả số tiền vay còn nợ nên quan hệ pháp luật được Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Anh H có địa chỉ cư trú tại huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh nên Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Thanh T có đơn đề nghị

xét xử vắng mặt. Anh Phạm Hoàng H được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh H theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của chị T thì thấy rằng: Chị T yêu cầu anh H

có nghĩa vụ trả cho chị số tiền vay gốc là 20.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi. Lý do chị T yêu cầu như trên là vì vào ngày 30/6/2022 chị có cho anh Phạm Hoàng H vay số tiền 20.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản, không có làm giấy tờ gì cả, anh H mượn hứa 2 ngày sau sẽ trả nhưng từ ngày vay cho đến nay anh H vẫn chưa trả cho chị khoản tiền nào.

Tại biên bản ghi nhận kết quả hòa giải của Hòa giải viên ngày 07 tháng 3

năm 2023, bị đơn anh Phạm Hoàng H trình bày: Anh đồng ý có nợ chị Nguyễn Thị Thanh T số tiền mượn là 20.000.000 đồng và xin trả dần trong thời gian 04 tháng vì hoàn cảnh gia đình đang gặp khó khăn. Mặt khác, qua xác minh bà Đặng Thị Khuân là mẹ ruột của anh H cung cấp, bà có biết việc anh H còn nợ chị T số tiền 20.000.000 đồng là do chị T có đến nhà đòi và nhiều lần xúc phạm gia đình bà.

Từ những phân tích như trên, thấy rằng đây là hợp đồng vay tài sản và

việc anh H chưa trả tiền cho chị T là có thật. Căn cứ theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 xác định việc này là có cơ sở. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, buộc anh H có trách nhiệm trả số tiền còn nợ cho chị T là phù hợp theo quy định của pháp luật. Chị T không yêu cầu anh H trả lãi nên cần ghi nhận.

Từ những nhận định trên xét thấy toàn bộ đề nghị của đại diện Viện

kiểm sát huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều

26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Do toàn bộ yêu cầu của chị T được Tòa án chấp nhận nên anh H phải chịu

toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 26, 147, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều

463, 466 của Bộ luật dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh T đối với anh

Phạm Hoàng H về “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”.

Buộc anh Phạm Hoàng H có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị Thanh T số

tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho

đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Phạm Hoàng H phải chịu 1.000.000 đồng (một triệu) đồng.

Hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Thanh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là

625.000 đồng (Sáu trăm hai mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0025306 ngày 17-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

3. Quyền kháng cáo:

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân

tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Quyền yêu cầu thi hành án:

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi

hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Tây Ninh;

- VKSND tỉnh Tây Ninh;

- VKSND huyện Gò Dầu;

- CC.THADS huyện Gò Dầu;

- Đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Phan Thị Vân THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ