- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị Kim L Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Nguyễn Thị Hồng N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim L đối với b Nguyễn Thị Hồng N về việc tranh chấp hợp đồng vay t i sản.
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B L TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2023/DS-ST Ngày: 25-9-2023 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B L - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thu Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Oanh Thy.
2. Ông Tống Văn Truyền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bình Em – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B L, tỉnh Long An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B L, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Lê Hà Thảo Quyên – Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B L, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 132/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2023/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 8 năm 2023, Quyết định ho n phiên tòa số 76/2023/QĐST-DS ng y 08 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1946
Địa chỉ: Số 18, đường Nguyễn Văn Siêu, khu phố 3, thị trấn B L, huyện B L, tỉnh Long An
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: B Nguyễn Thị Bích Duyên, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Số 28, đường Nguyễn Văn Siêu, khu phố 3, thị trấn B L, huyện B L, tỉnh Long An
(Giấy ủy quyền ng y 30/12/2021)
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1984
Địa chỉ: Ấp 4, x T P, huyện B L, tỉnh Long An.
(Bà Duyên có mặt, bà N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30/12/2021, đơn khởi kiện bổ sung ngày 30/12/2021, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 18/8/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L do người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Bích Duyên trình bày:
Ngày 16/12/2018 bà Nguyễn Thị Kim L có cho bà Nguyễn Thị Hồng N mượn số tiền 700.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 2%/tháng, thời hạn mượn tiền là 5 tháng, khi mượn tiền bà L và bà N có làm giấy tay mượn tiền.
Khi mượn tiền, bà N có giao cho bà L 01 (Một) bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 151744 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp cho ông Nguyễn Văn Giác ngày 22/7/2016 để làm tin.
Trong quá trình mượn tiền, bà N không trả bất kỳ khoản tiền lãi nào cho bà L. Đến ngày 05/9/2019 bà N đã trả cho bà L số tiền 400 000 000 đồng, bà L đã trả lại cho bà N bản chính Giấy mượn tiền ngày 16/12/2018 và 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 151744 nêu trên, nên bà N còn nợ bà L số tiền 300.000.000 đồng, hai bên có làm “Giấy cam kết thỏa thuận” ngày 05/9/2019.
Nay bà Nguyễn Thị Kim L yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng N phải trả cho bà L số tiền 300.000 000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Sự việc đ được Tòa án tiến h nh phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ v lập thủ tục hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N vắng mặt v không cung cấp cho Tòa án bất cứ t i liệu, chứng cứ n o có liên quan đến vụ án
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B L, tỉnh Long An phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đ tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Nguyên đơn đ thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung: Ngày 16/12/2018 bà L cho bà N mượn số tiền 700.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, thời hạn 5 tháng, khi mượn tiền bà L và bà N có lập Giấy mượn tiền, bà N giao cho bà L 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 151744 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp cho ông Nguyễn Văn Giác ngày 22/7/2016 để làm tin. Ngày 05/9/2019 bà N đã trả cho bà L số tiền 400.000.000 đồng, đồng thời bà L đã trả lại cho bà N bản chính Giấy mượn tiền ngày 16/12/2018 và 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 151744. Theo đơn khởi kiện ngày 30/12/2021 bà L khởi kiện yêu cầu bà N trả số tiền 700 000 000 đồng nhưng tại phiên tòa đại diện nguyên đơn xác định do bà L có sự nhầm lẫn về việc bị đơn đã trả số tiền 400 000 000 đồng theo Giấy cam kết ngày 05/9/2019 nên đơn khởi kiện ngày 30/12/2021 chưa chính xác, nay bà L xác định bà N còn nợ bà L số tiền 300 000 000 đồng và cam kết bà N không trả cho bà L số tiền nào từ ngày 05/9/2019 cho đến nay Đến hạn bà N không trả đủ số tiền còn nợ cho bà L theo thỏa thuận tại Giấy cam kết ngày 05/9/2019 là vi phạm thỏa thuận giữa hai bên, do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền còn nợ 300.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận Về tiền lãi: Nguyên đơn rút lại yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn trả lãi với lãi suất 0.75%/tháng, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu trên. Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, bị đơn không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xét xử là có căn cứ
Từ những phân tích trên, căn cứ vào các Điều 351, 463, 465, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L, buộc bà Nguyễn Thị Hồng N trả cho bà L số tiền 300.000.000 đồng; đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lãi với lãi suất 0.75%/tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Kim L khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng N trả số tiền 300 000 000 đồng, không yêu cầu tính l i. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “tranh chấp hợp đồng vay t i sản”. Bị đơn là bà Nguyễn Thị Hồng N có địa chỉ cư trú tại Ấp 4, x T P, huyện B L, tỉnh Long An. Do đó, thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện B L, tỉnh Long An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N đ được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến h nh xét xử vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N.
Về nội dung tranh chấp:
Xét yêu cầu của bà L yêu cầu bà N phải trả số tiền nợ vay Hội đồng xét xử xét thấy: Theo đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung cùng ngày 30/12/2021 bà L yêu cầu bà N trả số tiền nợ là 700.000.000 đồng, đến ngày 18/8/2023 bà L nộp đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là yêu cầu bà N trả số tiền nợ 300.000.000 đồng vì bà N đã trả cho bà L số tiền 400 000 000 đồng Căn cứ v o giấy tay mượn tiền ngày 16/12/2018 do bà L cung cấp thể hiện ng y 16/12/2018 bà N có mượn của bà L số tiền 700 000 000 đồng, thỏa thuận lãi suất 2%/tháng, thời hạn mượn tiền là 5 tháng, trong giấy tay mượn tiền có chữ ký, chữ viết của bà Nguyễn Thị Hồng N, “Giấy cam kết thỏa thuận” ngày 05/9/2019 thể hiện bà N đã trả cho bà L số tiền 400.000.000 đồng, nên bà N còn nợ bà L số tiền 300 000 000 đồng, thỏa thuận mỗi tháng bà N trả cho bà L số tiền 10 000 000 đồng, thời hạn trả là bắt đầu từ ngày 01/10/2019, trong giấy cam kết thỏa thuận tại mục “Bên B” có chữ ký, chữ viết của bà Nguyễn Thị Hồng N, nên giữa bà Nguyễn Thị Kim L và bà Nguyễn Thị Hồng N đ xác lập hợp đồng vay t i sản được quy định tại Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đến hạn trả nợ, nhưng bà N không trả tiền nợ cho bà L, việc bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ l đ vi phạm v o hợp đồng các bên đ xác lập
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn để bị đơn có ý kiến và cung cấp chứng cứ Tuy nhiên, bị đơn bà N vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất cứ t i liệu, chứng cứ n o thể hiện ý kiến về việc vay nợ nêu trên. Trong khi đó theo Giấy yêu cầu xác minh ngày 04/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện B L thì Công an xã Thanh Phú xác nhận thông tin bà Nguyễn Thị Hồng N có đăng ký thường trú tại Ấp 4, x T P, huyện B L, tỉnh Long An và hiện tại đang sinh sống tại địa phương. Việc bà N vắng mặt và không phản đối những chứng cứ và yêu cầu của nguyên đơn bà L đưa ra nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, căn cứ v o các t i liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp v lời trình b y của nguyên đơn xác định bà N còn nợ bà L số tiền 300.000.000 đồng nhưng bà N không thanh toán số tiền trên cho bà L l đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, yêu cầu trả số nợ vay của bà L l có căn cứ nên được chấp nhận
Về tiền l i: Theo đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung cùng ngày 30/12/2021 bà L yêu cầu bà N trả số tiền lãi là 252.000.000 đồng với lãi suất 0.75%/tháng. Tuy nhiên, tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Duyên rút lại yêu cầu tính lãi. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện là ho n to n tự nguyện, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu tính lãi của b Nguyễn Thị Kim L về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng N phải trả số tiền lãi 252.000.000 đồng với mức lãi suất 0 75%/tháng.
Tại phiên tòa, bà Duyên xác định khi bà N trả cho bà L số tiền 400.000.000 đồng thì bà L đã trả lại cho bà N 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 151744 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp cho ông Nguyễn Văn Giác ngày 22/7/2016. Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N vắng mặt và không có ý kiến gì về việc trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những phân tích trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho bà Nguyễn Thị Kim L theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cụ thể: 300.000.000 đồng x 5% = 15.000.000 đồng.
ì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí và lệ phí To án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim L đối với b Nguyễn Thị Hồng N về việc tranh chấp hợp đồng vay t i sản.
Buộc b Nguyễn Thị Hồng N phải trả cho bà Nguyễn Thị Kim L số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng)
Kể từ ng y có đơn yêu cầu thi h nh án của người được thi h nh án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, h ng tháng bên phải thi h nh án còn phải trả thêm khoản tiền l i của số tiền còn phải thi h nh án theo mức l i suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim L về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng N phải trả số tiền lãi 252.000.000 đồng.
3. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 15.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
4 Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ng y nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
5 Về hướng dẫn thi h nh án: Trường hợp bản án được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi h nh án dân sự; thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h nh án dân sự
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện B L; - THADS huyện B L; - Các đương sự; - Lưu HS, lưu án văn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Thu Thảo |