- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Trương Xuân L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2022/HSST Ngày: 16/10/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Trần Anh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Thái Quang Định và bà Phạm Thị Dung.
- Thư ký phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: ông Lê Trung Nghĩa, Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
+ Tại điểm cầu thành phần: ông Phạm Văn Thắng, Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: bà Nguyễn Bích Diệp – kiểm sát viên.
+ Tại điểm cầu thành phần: bà Nguyễn Thị Phương Linh – kiểm sát viên.
Ngày 16/10/2022, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 96/2022/HSST ngày 06/10/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97A/2022/QĐXXST-HS ngày 06/10/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Xuân L, sinh ngày 09/7/1999 tại Uông Bí, Quảng Ninh; nơi cư trú tại thôn Tập Đoàn, xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: sinh viên; học vấn: 12/12; bố là ông Trương Văn H, sinh năm 1963 và mẹ là bà Ngô Thị T, sinh năm 1967; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ là chị Lý Thị T, sinh năm 2000; bị cáo có 01 con, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 21/8/2022, hiện bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại điểm cầu thành phần;
- Người làm chứng:
+ Anh Lê Mạnh Ch, sinh năm 1990, trú tại tổ 20b, khu 4, phường Bắc Sơn, thành phố Uông Bí, vắng mặt;
+ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1970, trú tại tổ 5, khu 8, phường Thanh Sơn, thành phố Uông Bí, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 21/8/2022, tại tổ 7, khu 1, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Trương Xuân L bị bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,977 gam ma túy loại MDMA, mục đích để sử dụng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai: Chiều ngày 15/8/2022, bị cáo đi chơi ở khu vực cầu Sông Chanh, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh thì gặp một người đàn ông không rõ lai lịch, người này nói có bán ma túy loại thuốc lắc, bị cáo tò mò nên hỏi mua 03 viên với giá 1.000.000 đồng rồi mang về nhà cất giấu. Đến tối ngày 21/8/2022, bị cáo cho số thuốc lắc trên vào hộp kim loại in dòng chữ “Mentos” rồi cất vào túi quần đang mặc phía sau bên phải, sau đó bị cáo gọi taxi đi đến quán Emotion tại phường Yên Thanh để sử dụng một mình. Khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, bị cáo vừa xuống xe taxi để vào quán thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Quá trình điều tra bị cáo bị thu giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax màu đen bên trong lắp sim số 033.899.4953 và số tiền 300.000 đồng, bị cáo không dùng điện thoại liên lạc phạm tội, số tiền 300.000 đồng là do bị cáo lao động mà có, cơ quan điều tra đã trả lại những tài sản trên cho vợ bị cáo quản lý, bị cáo không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người làm chứng là anh Lê Mạnh C và anh Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, phù hợp với tài liệu cơ quan điều tra thu thập được.
Tại bản kết luận giám định số 1359 ngày 26/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng 0,977 gam.
Tại cáo trạng số 106 ngày 06/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Trương Xuân L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trương Xuân L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Xuân L từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/8/2022;
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy và vỏ hộp kim loại màu xanh bên ngoài ghi chữ “Mentos” hoàn lại sau giám định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Cơ quan điều tra thành phố Uông Bí, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa về cơ bản giống với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố đối với bị cáo, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập được, vì vậy đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 21/8/2022, tại tổ 7, khu 1, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Trương Xuân L bị bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,977 gam ma túy loại MDMA, mục đích để sử dụng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Chất ma túy là chất kích thích gây nghiện nguy hiểm cho xã hội nên việc quản lý, sử dụng chất ma túy phải tuân theo các quy định của pháp luật, trong vụ án này bị cáo là người thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức, biết rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Vì vậy, Hội đồng xét xử cần phải lên một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe giáo dục đối với bị cáo nói riêng và đảm bảo tính phòng ngừa tệ nạn ma túy trong xã hội nói chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố đẻ bị cáo là ông Trương Văn Hinh được tặng thưởng huy chương chiến sĩ vẻ vang của Chủ tịch nước năm 1993, bản thân bị cáo cũng được tặng danh hiệu “Chiến sĩ tiên tiến” năm 2021 do có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua quyết thắng năm 2021, vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về hình phạt:
Hình phạt chính:
Sau khi xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo tập trung cải tạo tu dưỡng để trở thành người công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến việc bị cáo là người có nhân thân tốt, bị cáo không nghiện ma túy, chỉ vì tò mò nên mua ma túy về sử dụng, sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng huy chương chiến sĩ vẻ vang, bản thân bị cáo cũng được tặng danh hiệu “Chiến sĩ tiên tiến” do có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua quyết thắng năm 2021, để từ đó xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Đảng và nhà nước ta.
Về hình phạt bổ sung: khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra thu giữ của bị cáo 0,977 gam ma túy loại MDMA, sau khi giám định được hoàn trả lại trong phong bì niêm phong số 1359/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh. Ngoài ra, còn thu giữ 01 vỏ hộp kim loại màu xanh bên ngoài ghi chữ “Mentos” bị cáo dùng để đựng ma túy.
Xét thấy: Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với vỏ hộp kim loại không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, hiện không rõ lai lịch địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Trương Xuân L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trương Xuân L 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/8/2022.
Về vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,85gam ma túy loại MDMA là mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 vỏ hộp kim loại màu xanh bên ngoài ghi chữ “Mentos” đựng trong 01 phong bì niêm phong số 1359/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/10/2022 giữa Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Uông Bí và Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Uông Bí)
Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Trương Xuân L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Tp. Uông Bí; - Cơ quan CSĐT Công an Tp. Uông Bí; - Chi cục THADS Uông Bí; - Cơ quan THAHS Công an Tp. Uông Bí; - Nhà tạm giữ Công an Tp. Uông Bí; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Anh Đức |