vanban.org

Bản án 102/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 09/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Thị H phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 25/6/2022. Xử phạt: bị cáo Hoàng Thị H 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T (cđp) phạm tội "mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Thị H phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
_______________________
Bản án số: 102/2022/HS-ST
Ngày: 09/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thùy Dương

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Đỗ Thị Hân

- Ông Nguyễn Văn Giang

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Vũ Huy Long và ông Vương Hải Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn T (tên gọi khác: không); sinh ngày 19/3/1998, tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện tại: số 112, phố T, khu 5, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa. Bị cáo đầu thú ngày 25/6/2022, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Hoàng Thị H (tên gọi khác: không); sinh ngày 05/7/2001, tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1978; chồng, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 24/6/2022, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: ông Ngụy Thành T - Luật sư, Công ty Luật TNHH Phúc Lâm thuộc đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người chứng kiến:

+ Anh Vũ Mạnh H, sinh năm 1975; nơi thường trú: khu T, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

+ Chị Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1992; nơi thường trú: thôn 10A, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

+ Anh Bùi Văn T, sinh năm 1991; nơi thường trú: thôn 10A, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn T và Hoàng Thị H có quan hệ tình cảm. Tối ngày 22/6/2022, cả 2 đi đến khu vực cầu N, thành phố H. Tại đây, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên T tìm gặp và mua của một người bạn tên là Đ (không rõ lai lịch, địa chỉ) 03 túi ma tuý Ketamine với giá 3.000.000 đồng, mục đích để bán kiếm lời sử dụng. Sau khi mua được ma tuý, T và H đi taxi về phòng trọ của T ở số nhà 112, phố T, thuộc khu 5, phường K, thành phố M, T để 03 túi ma tuý trên kệ tủ trong phòng trọ. Sau đó, T lấy 01 túi ma tuý sử dụng hết. Đến khoảng 21 giờ 45 phút ngày 24/6/2022, một người bạn tên là Đ (không rõ lai lịch, địa chỉ) gọi điện thoại cho T. Do lúc đó T đang bị đau bụng nên H cầm điện thoại nghe máy, nghe thấy Đ hỏi mua 02 túi ma tuý Ketamine và bảo mang đến phòng trọ của Đ ở số 55 Đại lộ H, thành phố M để giao dịch, thì H nói với T để H cầm ma tuý đi bán cho Đ. T đồng ý và bảo H cầm theo chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone của T để liên lạc. Sau đó, H lấy 02 túi ma tuý do T để trên kệ tủ, cất giấu vào áo lót rồi đón xe taxi đi giao ma tuý cho Đ. Khoảng 22 giờ cùng ngày, khi H đi xe taxi đến khu 3, phường T, thành phố M, thì bị Tổ công tác của Công an thành phố Móng Cái kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ trong áo lót bên trái H đang mặc: 01 gói giấy bên trong có 02 (hai) túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng; 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen.

Ngày 25/6/2022, biết hành vi phạm tội đã bị phát hiện nên Nguyễn Văn T đầu thú tại Công an thành phố Móng Cái và giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh.

Tại bản Kết luận giám định số: 1069/KL-KTHS ngày 01/7/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: chất tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon gửi giám định là ma tuý; loại: Ketamine, tổng khối lượng: 1,366 gam (một phẩy ba sáu sáu gam).

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn T và Hoàng Thị H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Người chứng kiến Vũ Mạnh H có lời khai trong hồ sơ vụ án thể hiện: khoảng 22 giờ 00 phút ngày 24/6/2022 khi tôi vừa chở chị H đến trước cửa số 55 Đại lộ Hòa Bình thì có lực lượng Công an đến yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra xe và trên người tôi, lực lượng Công an không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì. Khi kiểm tra chị H, tôi thấy chị H tự lấy ở trong áo lót đang mặc trên người ra 01 (một) gói giấy, bên trong có 02 (hai) túi nilon đều chứa chất tinh thể màu trắng. Khi được lực lượng Công an hỏi về chất tinh thể màu trắng trên, tôi nghe thấy chị H khai nhận đó là ma túy, loại Ketamine mà chị H đang mang đi bán cho một người ở số 55 Đại lộ H để lấy 3.000.000 đồng.

Người chứng kiến Bùi Văn T, Nguyễn Thị Thanh N đều có lời khai trong hồ sơ vụ án thể hiện: khoảng 22 giờ 00 phút ngày 24/6/2022 khi anh T và chị N đang ngồi ăn đêm ở số 51 Đại lộ H thuộc khu 3, phường T, thành phố M thì lực lượng Công an mời chứng kiến việc kiểm tra hành chính đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA Cerato màu trắng, mang biển số 14A-548.58 đang đỗ trước cửa số nhà 55 Đại lộ H. Khi lực lượng Công an yêu cầu anh H và chị H tự bỏ đồ đạc trên người ra để kiểm tra thì lực lượng Công an phát hiện trong áo lót của chị H có 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có 02 (hai) túi nilon đều chứa chất tinh thể màu trắng, chị H khai nhận chất tinh thể màu trắng trong 02 (hai) túi nilon trên là ma túy loại Ketamine mà chị H đang mang đi bán cho một người ở số 55 Đại lộ H với giá 3.000.000 đồng. Ngoài ra, Tổ công tác còn tạm giữ của chị H 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu trắng, đã qua sử dụng, còn anh Hùng thì không bị thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài sản gì.

Liên quan trong vụ án có 02 đối tượng đều tên Đ, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Tại bản Cáo trạng số: 104/CT-VKS-MC, ngày 10/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Thị H về tội “mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Thị H. Sau khi phân tích nội dung vụ án, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị với Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Thị H về tội “mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T từ 36 (ba mươi sáu) tháng đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 25/6/2022.

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Hoàng Thị H 30 (ba mươi) tháng đến 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24/6/2022.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Thị H.

Về vật chứng và xử lý vật chứng: căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy: M1: 0,63 gam (không phẩy sáu ba gam) ma túy, loại Ketamine; M2: 0,64 gam (không phẩy sáu bốn gam) ma túy, loại Ketamine được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, bên trong lắp 01 (một) sim số 0898.446.398, máy đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Hoàng Thị H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, bên trong lắp 02 (hai) sim số 0354.901.621 và 0522.041.406, máy đã qua sử dụng. Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, bên trong lắp 01 (một) sim số 0866.113.206, máy đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Hoàng Thị H.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: ông Ngụy Thành T trình bày đồng tình với quan điểm đánh giá của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái về tội danh, điều luật áp dụng. Tuy nhiên, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tuổi đời còn trẻ nên suy nghĩ chưa chín chắn, bồng bột, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bố bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội. Vì vây, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng truy tố các bị cáo. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Thị H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 21 giờ 45 phút ngày 24/6/2022, tại khu 5, phường K, thành phố M, Nguyễn Văn T có hành vi giao 1,366 gam (một phẩy ba sáu sáu gam) ma tuý Ketamine cho Hoàng Thị H để H mang bán cho đối tượng tên Đ. Khoảng 22 giờ cùng ngày, khi H mang số ma tuý trên đi đến khu 3, phường T, thành phố M, thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Thị H đã cấu thành tội “mua bán trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố các bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực hành vi nhận thức rõ tác hại của ma túy, để thỏa mãn nhu cầu riêng của bản thân các bị cáo đã cố ý cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì vậy cần xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.

[3] Về vai trò các bị cáo trong vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Nguyễn Văn T là người khởi xướng, trực tiếp giao ma túy cho bị cáo H đem đi bán, nên giữ vai trò chính trong vụ án; bị cáo Hoàng Thị H tích cực cùng với bị cáo T trong việc bán ma túy cho đối tượng mua ma túy, do đó bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình nhưng thấp hơn bị cáo T.

[4] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Thị H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Thị H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; riêng bị cáo Nguyễn Văn T sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

- Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết ấn định mức hình phạt nghiêm trong khung đã truy tố đối với các bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về vật chứng và xử lý vật chứng:

- Sau khi giám định, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh hoàn lại Cơ quan CSĐT Công an thành phố Móng Cái là M1: 0,681 gam (không phẩy sáu tám một gam) ma túy, loại Ketamine; M2: 0,685 gam (không phẩy sáu tám lăm gam) ma túy, loại Ketamine kèm theo Kết luận giám định số: 1069/KL-KLHS ngày 01/7/2022 theo đúng quy định của pháp luật là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Do đó căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, bên trong lắp 01 (một) sim số 0866.113.206, máy đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Hoàng Thị H là do bị cáo T đưa cho bị cáo H. Đây là công cụ, phương tiện các bị cáo T, H sử dụng vào việc phạm tội, do đó căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, bên trong lắp 01 (một) sim số 0898.446.398, máy đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, bên trong lắp 02 (hai) sim số 0354.901.621 và 0522.041.406, máy đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Hoàng Thị H. Đây là tài sản hợp pháp của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần trả lại cho các bị cáo.

[7] Về nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm: cần buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Liên quan trong vụ án có 02 đối tượng đều tên Đ, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Thị H phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”;

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 25/6/2022.

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Hoàng Thị H 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24/6/2022.

*. Về vật chứng và xử lý vật chứng: căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: M1: 0,63 gam (không phẩy sáu ba gam) ma túy, loại Ketamine; M2: 0,64 gam (không phẩy sáu bốn gam) ma túy, loại Ketamine được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật. Mặt trước phong bì ghi “mẫu vật hoàn lại kèm theo kết luận giám định số: 1069/KL-KTHS ngày 01/7/2022”.

- Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, số IMEI: 356109099264458, bên trong lắp 01 (một) sim số 0866.113.206, máy đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Hoàng Thị H.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, số IMEI 1: 359978121158186, số IMEI 2: 359978121247328, bên trong lắp 01 (một) sim số 0898.446.398, máy đã qua sử dụng;

- Trả lại cho bị cáo Hoàng Thị H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, số IMEI 1: 35641818382914, số IMEI 2: 356419118382912, bên trong lắp 02 (hai) sim số 0354.901.621 và 0522.041.406, máy đã qua sử dụng.

(tình trạng số vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng số 03/2023/THA, ngày 11 tháng 10 năm 2022 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh và Cơ quan CSĐT Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh).

*. Về nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Thị H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

*. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ