vanban.org

Bản án 102/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 25/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Đình C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về điều khoản áp dụng và hình phạt: Xử phạt: bị cáo Đỗ Đình C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Đình Chinh - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Đình C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN H
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2022/HS-ST
Ngày: 25/05/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H

THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Vương;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị H

2. Bà Vũ Thị Minh H

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương A, Thư ký Tòa án nhân dân quận H,

thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H tham gia phiên toà: ông Nguyễn

Tiến Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố H; Tòa án nhân dân quận H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 67/2022/HSST ngày 08 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2022, đối với bị cáo:

Đỗ Đình C; Giới tính: Nam; sinh năm 1986; ĐKHKTT: số 468 QL, phường PL, quận H, HN; Chỗ ở: Số 34 ngõ 7, tổ 4, phường PL, quận H, HN; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa:12/12; Con ông: Đỗ Văn T, sinh năm: 1956; con bà: Đỗ Thị M, sinh năm: 1959; Vợ: Vũ Thị T, sinh năm: 1991; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm: 2014, con nhỏ sinh năm: 2017; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang ngày 09/01/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an H, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị T, sinh năm: 1991; Chỗ ở: Số 34 ngõ 7, tổ 4, phường PL, quận H, H, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 12/2021, Đỗ Đình C sử dụng tài khoản zalo “Đ” có nhận được tin nhắn từ 01 đối tượng trên mạng xã hội zalo có tên “P”, đặt mua của C 02 (hai) kg quả Anh Túc (quả Thuốc phiện) C đồng ý. Người này bảo C khi nào có quả Anh Túc thì liên lạc với người này theo số thuê bao 0915946767. Sau đó, C lên mạng xã hội facebook tìm, đặt mua của người không quen biết có tên facebook “T” 02 (hai) kg quả Anh Túc với giá 7.000.000 đồng, người này đồng ý và hẹn C đến ngày 09/01/2022 sẽ giao quả Anh Túc.

Khoảng 12 giờ ngày 09/01/2022, khi C đang ở nhà tại số 34 ngõ 7, tổ 4, phường Phú Lãm, quận H, H thì có số thuê bao 0363109507 gọi đến số thuê bao 0986888938 của C bảo C ra bến xe M để lấy quả Anh Túc C đồng ý. Sau đó, C điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX BKS: 29G1-087.58 đi từ nhà đến khu vực bến xe M. Đến nơi, C gặp 01 người nam giới không quen biết, người này đưa cho C 01 (một) thùng bìa catton bên trong có 01 túi nilong màu đen quấn băng dính, chứa quả, thân cây Anh Túc (thuốc phiện). C nhận số quả, thân cây Anh Túc và để vào giá đèo hàng của xe máy, rồi đưa cho nam giới số tiền 7.000.000 đồng. Sau đó, C lấy điện thoại của C có số thuê bao 0986888938 gọi đến số thuê bao 0915946767 của người đã đặt mua quả Anh Túc của C, thì được người này hẹn giao quả Anh Túc tại sân bóng Hà Cầu, quận H. Sau đó, C điều khiển chiếc xe máy BKS: 29G1-087.58 đến điểm hẹn.

Khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, khi C đi đến khu vực trước cửa số nhà 109B đường L thuộc phường Nguyễn Trãi, quận H, H, để bán quả, thân cây Anh Túc thì bị phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ gồm: - 01 (một) thùng bìa cattông bên trong có 01 (một) túi nilong màu đen bên ngoài quấn băng dính, bên trong chứa quả, thân cây thực vật màu xanh;

- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX BKS: 59G1-087.58, SK: 323BY-619101, SM: C43E-6064251;

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen lắp sim số thuê bao 0986888938.

Ngày 09/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng là 01 (một) thùng bìa cattông bên trong có 01 (một) túi nilong màu đen bên ngoài quấn băng dính, bên trong chứa quả, thân cây thực vật màu xanh bị thu giữ.

Tại bản kết luận giám định số 592/KLGĐ-PC09 ngày 18/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành Phố. H, kết luận:

“- Thân cây thực vật tươi màu xanh là thân cây Thuốc phiện tươi, khối lượng: 635,79 gam.

- Quả màu xảnh là quả Thuốc phiện tươi, khối lượng: 1326,38 gam”.

Về nguồn gốc ma tuý bị thu giữ, đối tượng bán và mua ma tuý với C: Đỗ Đình C khai đặt mua của 01 người không quen biết trên mạng xã hội Facebook tên “T” và nhận được Thuốc phiện từ 01 người nam giới không quen biết, sử dụng số thuê bao 0363109507 tại vực bến xe M, Thành Phố, H với giá 7.000.000 đồng. Kết quả xác minh: chủ thuê bao 0363109507 là anh Nguyễn Đức M, (Sinh năm: 1980, HKTT: Thôn 1, xã ĐM, huyện T, H.) Anh M trình bày đã không còn sử dụng số thuê bao trên từ tháng 06/2021, hiện không biết ai sử dụng số thuê bao trên. Đối với đối tượng hỏi mua ma túy của C: C khai không quen biết người này. Ngày 09/01/2022, C sử dụng điện thoại của C gọi đến số thuê bao 0915946767 người này để mua bán ma túy. Kết quả xác minh chủ thuê bao số 0915946767 là anh Nguyễn Quang V, (Sinh năm: 1982, trú tại: Số 15B, tổ D2, phường VC, quận Đ, Thành phố H.) Anh V trình bày đã không sử dụng số thuê bao trên từ tháng 06/2019 và hiện không biết ai sử dụng. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của C ra không có tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 59G1-087.58, số khung: 323BY619101, số máy: C43E6064251 đã thu giữ là phương tiện C sử dụng đi mua bán ma túy. Kết quả điều tra xác định: chiếc xe trên được đăng ký sở hữu mang tên Nguyễn Công D, trú tại: A11/1 khu phố 4, phường TMT, quận 12, thành phố H. Công an phường TMT, quận 12, thành phố H cung cấp: anh Nguyễn Công D không còn ở địa chỉ trên và không liên lạc được, C khai: chiếc xe máy trên do C mượn của vợ là chị Vũ Thị T, chị T khai đã mua chiếc xe máy này của anh Nguyễn Công D từ năm 2012. Khi mua xe, anh Dũng có viết giấy mua bán xe và giao đăng ký xe cho chị T nhưng quá trình sử dụng chị T đã làm mất giấy tờ mua bán, chỉ giữ lại giấy đăng ký xe. Chị T không biết việc C sử dụng chiếc xe máy trên để mua bán trái phép chất ma tuý. Chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Do đó ngày 04/3/2022, Cơ quan điều tra Công an quận H đã bàn giao chiếc xe máy BKS: 59G1-087.58 nêu trên cho chị Vũ Thị T là có căn cứ pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 68/CT-VKS-HS ngày 07 tháng 4 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận H đã truy tố bị cáo Đỗ Đình C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

* Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

* Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Đình C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt: Bị cáo Đỗ Đình C từ 30 đến 36 tháng tù; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an quận H và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ 45 phút ngày 09/01/2022, tại trước cửa số nhà 109B đường L thuộc phường NT, quận H, Thành phố H, Đỗ Đình C đã có hành vi cất giấu trái phép 01 (một) thùng các-tông bên trong có quả và thân cây Thuốc phiện tươi gồm: quả Thuốc phiện tươi, khối lượng 1326,38 gam và thân cây Thuốc phiện tươi, khối lượng 635,79 gam mục đích để bán, thì bị phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận H đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp thái độ nghiêm khắc của Nhà nước để ngăn chặn tệ nạn ma túy trong xã hội. Do đó cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và nhằm mục đích đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với hành vi của bị cáo, cụ thể:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân của bị cáo chưa có tiền án tiền sự, bản thân bị cáo cũng đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và sẽ áp dụng mức hình phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy 01 hộp xốp dán giấy trắng niêm phong tại các mép dán có chữ ký của Đỗ Đình C, cán bộ Công an quận H, Lê Minh Đ và giám định viên Trương Trọng V.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen lắp sim số 0986888983.

. Về các vấn đề khác:

- Về nguồn gốc ma tuý bị thu giữ, đối tượng bán và mua ma tuý với C: Đỗ Đình C khai đặt mua của 01 người không quen biết trên mạng xã hội Facebook tên “T” và nhận được Thuốc phiện từ 01 người nam giới không quen biết, sử dụng số thuê bao 0363109507 tại vực bến xe M, Thành phố H với giá 7.000.000 đồng. Kết quả xác minh: chủ thuê bao 0363109507 là anh Nguyễn Đức M, (Sinh năm: 1980, HKTT: Thôn 1, xã ĐM, huyện T, HN.) Anh M trình bày đã không còn sử dụng số thuê bao trên từ tháng 06/2021, hiện không biết ai sử dụng số thuê bao trên. Đối với đối tượng hỏi mua ma túy của C: C khai không quen biết người này. Ngày 09/01/2022, C sử dụng điện thoại của C gọi đến số thuê bao 0915946767 người này để mua bán ma túy. Kết quả xác minh chủ thuê bao số 0915946767 là anh Nguyễn Quang V, (Sinh năm: 1982, trú tại: Số 15B, tổ D2, phường VC, quận Đ, Thành Phố, H.) Anh V trình bày đã không sử dụng số thuê bao trên từ tháng 06/2019 và hiện không biết ai sử dụng. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của C ra không có tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 59G1-087.58, số khung: 323BY619101, số máy: C43E6064251 đã thu giữ là phương tiện C sử dụng đi mua bán ma túy. Kết quả điều tra xác định: chiếc xe trên được đăng ký sở hữu mang tên Nguyễn Công D, trú tại: A11/1 khu phố 4, phường TMT, quận 12, thành phố H. Công an phường TMT, quận 12, thành phố H cung cấp: anh Nguyễn Công D không còn ở địa chỉ trên và không liên lạc được. C khai: chiếc xe máy trên do C mượn của vợ là chị Vũ Thị T, chị T khai: đã mua chiếc xe máy này của anh Nguyễn Công D từ năm 2012. Khi mua xe, anh Dũng có viết giấy mua bán xe và giao đăng ký xe cho chị T, nhưng quá trình sử dụng chị T đã làm mất giấy tờ mua bán, chỉ giữ lại giấy đăng ký xe. Chị T không biết việc C sử dụng chiếc xe máy trên để mua bán trái phép chất ma tuý, chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Do đó ngày 04/3/2022, Cơ quan điều tra Công an quận H đã bàn giao chiếc xe máy BKS: 59G1-087.58 nêu trên cho chị Vũ Thị T là có căn cứ pháp luật.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sơ thẩm.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Đình C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về điều khoản áp dụng và hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: bị cáo Đỗ Đình C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2022.

3. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 hộp xốp dán giấy trắng niêm phong tại các mép dán có chữ ký của Đỗ Đình C, cán bộ Công an quận H, Lê Minh Đ và giám định viên Trương Trọng V.

- Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen lắp sim số 0986888983.

Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/5/2022 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra và Chi cục thi hành án dân sự quận H.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Đỗ Đình C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần có liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ