- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? * Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Kim N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2022/HNGĐ-ST Ngày: 13-7-2022 V/v Tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Vui
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Thu Hà
2. Ông Huỳnh Văn Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long không tham gia phiên toà.
Ngày 13 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 131/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2022 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2022/QĐXX-ST ngày 21 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Kim N, sinh năm 1986 (vắng mặt có đơn xin vắng mặt ngày 23 tháng 5 năm 2022)
Địa chỉ: ấp G, xã T, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
2. Bị đơn: Anh Bùi Hữu M, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp 4, xã N, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 02 năm 2022 và những lời khai khác có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Lê Kim N trình bày:
Hôn nhân giữa chị và anh Bùi Hữu M do tự tìm hiểu quen biết tiến tới hôn nhân, được gia đình hai bên đồng ý có tổ chức lễ cưới vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 26 tháng 3 năm 2013. Sau ngày cưới vợ chồng sống chung gia đình chồng tại ấp 4, xã Trung Nghĩa, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay cãi vã mất hạnh phúc. Chị và anh M không còn sống chung từ tháng 01 năm 2021 đến nay.
Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Hữu M.
- Về con chung: Có 02 người con chung tên Bùi Hữu S, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2014 và Bùi Ngọc G, sinh ngày 30 tháng 7 năm 2018 hiện đang sống với chị N. Sau khi ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Bùi Hữu S và Bùi Ngọc G, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung phải thu, phải trả: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị không còn yêu cầu nào khác.
* Đối với bị đơn anh Bùi Hữu M:
Anh Bùi Hữu M có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp 4, xã N, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Hiện anh M có mặt tại địa phương. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh M cố tình không hợp tác.
* Ý kiến của cháu Bùi Hữu S, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2014 trình bày: Khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng sống với mẹ.
Tài liệu, chứng cứ trong vụ án:
Nguyên đơn đã nộp: giấy chứng nhận kết hôn bản chính, 02 giấy khai sinh bản sao, phiếu dịch vụ chuyển phát nhanh, bảng khai ý kiến của cháu Bùi Hữu S bản gốc, đơn xin vắng mặt, đơn xin xác nhận, trích lục cải chính hộ tịch.
Bị đơn anh Bùi Hữu M không đến tham gia tố tụng tại tòa án nên anh M không nộp tài liệu, chứng cứ nào.
Ngoài ra đương sự không còn yêu cầu nào khác giữ nguyên quan điểm của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng từ khi thụ lý vụ án đến khi vụ án được đưa ra xét xử anh Bùi Hữu M cố tình vắng mặt không lý do, không hợp tác với Tòa án để giải quyết vụ án, anh M biết chị N yêu cầu ly hôn với anh tại Tòa án, ngày 23 tháng 5 năm 2022 chị Lê Kim N có đơn xin vắng mặt tại Toà án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh M, chị N theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Mối quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Kim N và anh Bùi Hữu M là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Hôn nhân của anh chị do tự tìm hiểu quen biết có tổ chức lễ cưới vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 26 tháng 3 năm 2013. Theo lời trình bày của chị N thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay cãi vã mất hạnh phúc, hiện nay anh chị không còn sống chung. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị N yêu cầu ly hôn với anh M là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Con chung: Chị Lê Kim N yêu cầu nuôi cháu Bùi Hữu S, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2014 và Bùi Ngọc G, sinh ngày 30 tháng 7 năm 2018 không yêu cầu anh Bùi Hữu M cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình.
Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Miễn xét.
Các khoản nợ phải thu, phải trả: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Miễn xét.
Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Chị Lê Kim N nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 9, 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 3, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.
* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Kim N.
[1] Về mối quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Kim N được ly hôn với anh Bùi Hữu M.
[2] Con chung: Giao cháu Bùi Hữu S, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2014 và Bùi Ngọc G, sinh ngày 30 tháng 7 năm 2018 cho chị Lê Kim N nuôi dưỡng. Chị N không yêu cầu anh Bùi Hữu M phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
[3] Tài sản chung: Chị Lê Kim N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Miễn xét.
[4] Nợ chung phải thu, phải trả: Chị Lê Kim N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Miễn xét.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Chị Lê Kim N nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số N0 0008134 ngày 24 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm. Chị N đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử lại phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND huyện Vũng Liêm; - Chi cục THADS huyện Vũng Liêm; - UBND xã N; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Huỳnh Văn Vui |