- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Thị Bích T - Trần Quang V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị Bích T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”đối với ông Trần Quang V.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2022/HNGĐ-ST Ngày: 26-9-2022 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Phượng
Các hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Bùi Mạnh Quyết
2/ Ông Trần Văn Nhị
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 237/2022/TLST-HNGĐ, ngày 19/7/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93a/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23/8/2022 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Bích T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp V, xã B, huyện T, tỉnh Long An.
* Bị đơn: Ông Trần Quang V, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp V, xã B, huyện T, tỉnh Long An.
(Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông V vắng mặt.)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 06/7/2022 và lời trình bày của nguyên đơn bà Trịnh Thị Bích T trong suốt quá trình giải quyết vụ án có nội dung như sau:
Bà và ông V tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 11/8/1998 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu vợ chồng bà chung sống hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn ngày càng gay gắt, thường xuyên cãi nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông V không chăm lo cho gia đình và con cái, có người phụ nữ khác, hay cãi nhau trong gia đình và thường xuyên vắng nhà. Bà đã khuyên nhủ nhưng ông V không thay đổi. Hai người đã sống ly thân từ tháng 01/2021 đến nay. Do không thể hàn gắn được mối quan hệ hôn nhân này, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông V.
Về con chung: Bà và ông V có 02 con chung tên Trần Quang V, sinh ngày 22/02/2000 và Trần Quang H, sinh ngày 09/10/2007. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên H, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung tên V, đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Trần Quang V trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt, không làm bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào và không có văn bản ý kiến phản hồi hay yêu cầu gì đối với việc khởi kiện của bà T, cũng như vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
Tòa án tiến hành thụ lý vụ án, hòa giải nhưng không được do ông Vvắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Bà Trịnh Thị Bích T nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Trần Quang V. Căn cứ nơi cư trú của bị đơn, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa theo quy định tại Điều 28 và Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Trịnh Thị Bích T có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Trần Quang V vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để xét xử nên Tòa án giải quyết vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông V chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 11/8/1998 nên là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nay bà T kiên quyết xin ly hôn với ông V vì không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân. Ông V không đưa ra được bất kỳ giải pháp nào để hàn gắn và vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án thể hiện ông không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này. Do đó, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn trong hôn nhân giữa hai bên là trầm trọng, yêu cầu xin ly hôn của bà T có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung:
Bà T xác định bà và ông Vcó 02 con chung tên Trần Quang V, sinh ngày 22/02/2000 và Trần Quang H, sinh ngày 09/10/2007. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên H, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung tên V, đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét thấy, ông V không có ý kiến phản đối gì về việc bà T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và cháu H có nguyện vọng sống chung với bà T. Do đó, giao con chung Trần Quang H cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông V không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu.
Mặc dù không trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nhưng ông V được quyền đến thăm, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con chung thì cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền làm đơn yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng nuôi con.
Về nợ chung: Cho đến khi xét xử sơ thẩm, không có ai khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nợ chung của vợ chồng bà Tvà ông V nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung: Bà T xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông V không có ý kiến gì về tài sản chung nên Tòa án không xem xét. Sau này, các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
Từ các phân tích trên, yêu cầu khởi kiện của bà T là có căn cứ chấp nhận toàn bộ.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Ông V không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 147, 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị Bích T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”đối với ông Trần Quang V.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị Bích T được ly hôn với ông Trần Quang V.
2/ Về con chung: Bà Trịnh Thị Bích T và ông Trần Quang V có 02 con chung.
Con chung tên Trần Quang V, sinh năm 2000 đã trưởng thành, không bị nhược điểm về thể chất, tinh thần, bà Trịnh Thị Bích T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Giao con chung Trần Quang H, sinh ngày 09/10/2007 cho bà Trịnh Thị Bích T chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Trần Quang V không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Trịnh Thị Bích T không yêu cầu.
Mặc dù không trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nhưng ông Trần Quang V được quyền đến thăm, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con chung thì cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền làm đơn yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng nuôi con.
3/ Về án phí:
Bà Trịnh Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002558, ngày 15/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Bà Trịnh Thị Bích T đã nộp đủ.
Ông Trần Quang V không phải chịu án phí.
4/Án xử sơ thẩm, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
5/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - CCTHADS huyện Thủ Thừa; - VKSND huyện Thủ Thừa; - Các đương sự; - UBND xã T, huyện B, TP.HCM; - Lưu hồ sơ, án văn. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Lê Thị Mỹ Phượng |