- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? h p nh n yêu cầu ly hôn c a chị hung Thị Diệu P đối với anh Trà T n H.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2021/HN-ST Ngày: 31/12/2021 V/v: “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHAÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – BẾN TRE
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: ông Lê Văn Lâm.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hồng Vân
2. Ông Huỳnh Hữu Phước
- Thư ký phiên toà: bà Giả Huệ Tiên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Diễm – Kiểm sát viên.
Ngày 31/12/2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 203/2021/TLST-HNGĐ ngày 07/5/2021 về việc: “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2021/QĐXX-HNGĐ ngày 25/11/2021 và quyết định hoãn phiên toà số: 75/2021/QĐST-HNGĐ ngày 13/12/2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị hung Thị Diệu P, sinh năm 1978; địa chỉ 58 3 T, khu phố 4, thị tr n B, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (vắng có đơn).
2. Bị đơn: anh Trà T n H (T), sinh năm 1977; địa chỉ 58 3 đư ng T, khu phố 4, thị tr n B, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/4/2021 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Chung Thị Diệu P trình bày:
hị và anh Trà T n H tự nguyện kết hôn vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre vào ngày 26/4/2005. Sau khi kết hôn, th i gian đầu vợ chồng sống chung với gia đình anh H tại xã M, huyện Ba Tri, sau đó chuyển về sống tại khu phố 4, thị tr n B, huyện Ba Tri. Đến khoảng tháng 9/2019 thì đôi bên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do b t đồng quan điểm, anh H không c n quan tâm đến chị, không chăm lo, vun vén cho hạnh ph c gia đình. Ngoài ra, anh H c n có tính gia trưởng, bảo th , thư ng xuyên chửi bới, x c phạm danh dự, nhân phẩm, hành hạ tinh thần chị. Tuy nhiên, vì con nên hai bên đã cố gắng h a giải để tiếp tục chung sống. Đến tháng 10 2020 hai bên tiếp tục phát sinh mâu thuẫn do anh H nghi ng sự chung th y c a chị dẫn đến tình cảm đôi bên ngày càng rạn nứt nghiêm trọng. Bản thân chị th a nh n có những giây ph t xao l ng trong khoảng tháng 3 2020 nhưng chị chỉ tâm sự khi vợ chồng không hạnh ph c và đã biết d ng lại đ ng l c. Vợ chồng chính thức ly thân t tháng 5 2020 đến nay, t khi ly thân mặc dù vợ chồng sống riêng nhưng hễ gặp mặt là xảy ra cự cãi và tranh lu n khiến cả hai đều r t mệt mỏi mỗi khi gặp mặt. Theo chị, sự việc hai bên đến mức ra Toà ly hôn cả hai đều có lỗi, nhưng anh H có lỗi nhiều hơn. Hiện chị nh n th y tình cảm vợ chồng đã không c n, mục đích hôn nhân không đạt được, đ i sống chung không thể kéo dài và không có khả năng hàn gắn nên chị yêu cầu ly hôn với anh H.
Con chung là Trà Chung P sinh ngày 06/4/2007 hiện sống với anh chị, do anh chị ly thân nhưng vẫn sống chung nhà. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dư ng cháu P, không yêu cầu anh H c p dư ng nuôi con.
Tài sản chung không yêu cầu giải quyết.
Nợ chung không có.
Trong quá trình tố tụng, anh Trà Tấn H trình bày:
nh và chị hung Thị Diệu P kết hôn vào năm 2005, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M vào ngày 26/4/2005.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với gia đình chị P tại khu phố 4, thị tr n B, huyện Ba Tri. Th i gian đầu, hai bên chung sống hạnh ph c. Đến năm 2019, vợ chồng có chuyện hiểu lầm dẫn đến b t h a nhưng sau đó hiểu lầm được tháo g , hai bên đã h a giải với nhau. Đến tháng 8 2020, anh cảm th y chị P hạn chế tiếp x c và xa lánh anh, chỉ bàn bạc với anh những chuyện liên quan đến con chung nhưng anh không rõ nguyên nhân. Hiện đôi bên vẫn sống chung nhà chứ không có ly thân, chỉ có chị P ở ph ng riêng t tháng 8 2020 cho đến nay. Việc vợ chồng b t h a, gia đình chị P có biết và đều mong muốn vợ chồng hàn gắn. Hiện anh c n thương vợ và mong muốn con có một gia đình trọn vẹn, đồng th i anh nh n th y đôi bên vẫn c n khả năng hàn gắn nên anh không đồng ý ly hôn.
Con chung là Trà Chung P sinh ngày 06 4 2007 hiện sống với anh chị. Do không đồng ý ly hôn nên anh không có yêu cầu gì về con chung.
Tài sản chung gồm: 02 căn nhà, 02 thửa đ t toạ lạc tại khu phố 4, thị tr n B hiện do chị P đứng tên gi y chứng nh n quyền sử dụng đ t; 01 căn nhà và 01 công đ t l a toạ lạc tại xã M, huyện Ba Tri do vợ chồng cùng đứng tên gi y chứng nh n quyền sử dụng đ t; 3,7 công đ t l a toạ lạc tại xã M, huyện Ba Tri hiện do chị P đứng tên gi y chứng nh n quyền sử dụng đ t.
Nợ chung không có.
Tại phiên tòa:
- hị hung Thị Diệu P vắng mặt có đơn.
- nh Trà T n H vắng mặt không lý do.
Quan điểm c a Viện kiểm sát:
- Về th tục: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đ ng, đầy đ quy định tại Điều 48 c a Bộ lu t tố tụng dân sự (ghi tắt là BLTTDS). Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên t a đã tuân theo đ ng quy định c a BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn thực hiện đ ng quyền và nghĩa vụ quy định tại các điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn đã được triệu t p hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên chưa thực hiện đ ng quyền và nghĩa vụ quy định tại các điều 70, 72 BLTTDS.
- Về nội dung: nh n th y hị P và anh H tự nguyện kết hôn và có ĐKKH tại UBND xã M (Ba Tri, Bến Tre) vào ngày 26 4 2005. Việc ĐKKH được thực hiện đ ng theo quy định c a pháp lu t nên quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, do b t đồng quan điểm nên t năm 2019 giữa vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân t tháng 5 2021 đến nay. Anh H cho rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng có thể h a giải, nhưng kể t khi ly thân cũng như t ngày 01 7 2021 được T a án cho th i gian nhưng đến nay vợ chồng vẫn không h a giải được mâu thuẫn. T đó cho th y mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị P yêu cầu ly hôn là có căn cứ theo Điều 56 Lu t HN&GĐ. on chung: háu Trà hung P– 06 4 2007 có nguyện vọng sống với chị P, anh H cũng đồng ý để chị P nuôi con nên chị P yêu cầu được trực tiếp nuôi dư ng con chung, không yêu cầu anh H c p dư ng nuôi con là có căn cứ theo Điều 81, 82 Lu t HN&GĐ.
Tài sản chung, nợ chung không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
ăn cứ Điều 9, 56, 81, 82 Lu t HN&GĐ. Đề nghị HĐXX ch p nh n yêu cầu c a chị hung Thị Diệu P về việc xin ly hôn với anh Trà T n H. hị P có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dư ng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu Trà Chung Phú – 06 4 2007. Ghi nh n chị P không yêu cầu anh H c p dư ng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét th y:
Về thủ tục: tại phiên toà, nguyên đơn vắng nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Riêng bị đơn mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nhưng tại phiên toà vẫn vắng mặt. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 BLTTDS.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Do chị P và anh H tự nguyện kết hôn vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Nhơn vào ngày 26/4/2005 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Sau khi kết hôn, do b t đồng quan điểm nên hai bên phát sinh mâu thuẫn, đ i sống hôn nhân không hạnh ph c và ly thân t tháng 5/2020 cho đến nay. Trong th i gian ly thân, hai bên vẫn không thể hoà giải, khắc phục những b t đồng. Hiện chị P xác định không còn tình cảm, không thể hàn gắn, giữ nguyên yêu cầu ly hôn và yêu cầu xét xử vắng mặt; anh H không đồng ý ly hôn nhưng không có giải pháp hàn gắn và vắng mặt tại phiên toà. Điều này thể hiện tình trạng mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đ i sống chung không thể kéo dài và không c n khả năng hàn gắn. Do đó, xét yêu cầu ly hôn c a chị P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 Lu t Hôn nhân và gia đình được Hội đồng xét xử ch p nh n.
Về con chung: Trà Chung P sinh ngày 06/4/2007. Hội đồng xét xử xét th y tại biên bản l y ý kiến ngày 06 7 2021, cháu P có nguyện vọng sống chung với mẹ, anh H cũng không tranh ch p nên xét yêu cầu trực tiếp nuôi con chung c a chị P là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp lu t tại Điều 81 Lu t Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử ch p nh n. Ghi nh n chị P tự nguyện không yêu cầu anh H c p dư ng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Trong quá trình tố tụng, chị P không tranh ch p về tài sản chung. Riêng anh H cho rằng vợ chồng có tài sản chung nhưng do anh mong muốn có thêm th i gian để vợ chồng hàn gắn nên anh chưa tranh ch p, sau đó T a án có tống đạt thông báo cho anh H về việc nếu có nhu cầu tranh ch p tài sản chung thì nộp đơn yêu cầu giải quyết cho T a án nhưng anh H không giao nộp và cũng không tham gia tố tụng theo triệu t p c a T a án. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung.
Về nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét đề nghị c a Viện kiểm sát phù hợp với nh n định c a Hội đồng xét xử nên được ch p nh n.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị P phải nộp số tiền án phí là 300.000 đồng theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 227, 228 Bộ lu t tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Lu t hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH 14 ngày 30 12 2016 quy ñ nh veà mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
1. h p nh n yêu cầu ly hôn c a chị hung Thị Diệu P đối với anh Trà T n H.
2. Con chung: hị hung Thị Diệu P được quyền trực tiếp nuôi dư ng cháu Trà Chung P sinh ngày 06/4/2007. Ghi nh n chị P tự nguyện không yêu cầu anh H c p dư ng nuôi con chung.
Anh Trà T n H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi có nhu cầu, vì lợi ích c a con chung, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi ngư i trực tiếp nuôi con chung và c p dư ng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: không tranh ch p nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị hung Thị Diệu P phải nộp số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), nhưng được kh u tr vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000489 ngày 27/4/2021 cuûa hi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Do đó, án phí sơ thẩm, chị P đã nộp xong.
Trư ng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t Thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Lu t Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t thi hành án dân sự.
ác đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên t a hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì th i hạn kháng cáo tính t ngày nh n được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Nôi nhaän:
| - VKSND huyện; - ác đương sự; - Chi cục TH huyện; - UBND xã Mỹ Nhơn; - Lưu. | TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SƠ THẨM Thẩm phán – h toạ phiên toà Lê Văn Lâm |