vanban.org

Bản án 102/2021/HN&GĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Châu Kim Ngọc Hg L.

Về hôn nhân: Chị Châu Kim Ngọc Hg L ly hôn anh Trương Hữu H. Giấy chứng nhận kết hôn số 37, do Ủy ban nhân dân xã Đa Kai, huyện Đức L cấp vào ngày 25/6/2020, cấp cho chị Châu Kim Ngọc Hg L và anh Trương Hữu H hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị L ly hôn anh H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Châu Kim Ngọc Hg L.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2021/HN&GĐ-ST
Ngày: 30-9-2021
“V/v Tranh chấp về ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC L, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Thuận.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Đoàn Công Hòa.

2/ Ông Nguyễn Đức Binh.

Thư ký phiên toà: Ông Tô Văn Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 274/2021/TLST-HN&GĐ ngày 12 tháng 8 năm 2021 về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2021/QĐXXST-HN&GĐ ngày 09 tháng 9 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Châu Kim Ngọc Hg L, sinh năm 1991.

HKTT: Khóm 5, thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

Nơi cư trú: Số nhà 119/07, đường Nguyễn Thị Thập, phường Tân Phú, Quận 7, Tp. Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Anh Trương Hữu H, sinh năm 1992.

Nơi cư trú: Số nhà 7, đường số 20, tổ 4, thôn 3, xã Đa Kai, huyện Đức L, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2018, chị L và anh H đã kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đa Kai, huyện Đức L; sau khi kết hôn thì chị L và anh H chung sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh những ý kiến, quan điểm không đồng nhất, xảy ra mâu thuẫn, cải vã không thể giải quyết được và đã ly thân từ tháng 01/2021; nay chị L xác định chị và anh H không còn tình cảm, yêu thương, quý trọng nhau, mâu thuẫn thật sự trầm trọng, nên chị L, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh H.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày:

Anh H và chị L kết hôn vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đa Kai, huyện Đức L; sau khi kết hôn thì anh H và chị L chung sống hạnh phúc được 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên không cùng quan điểm sống; anh H và chị L hiện tại đã ly thân, không còn quan hệ như vợ chồng; nay chị L gửi đơn xin ly hôn tôi thì anh H đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Châu Kim Ngọc Hg L.

Về con chung, tài sản chung và nợ: Không có.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử chưa ghi nhận việc nguyên đơn có đơn rút lại yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn chị Châu Kim Ngọc Hg L khởi kiện ly hôn đối với bị đơn Trương Hữu H; anh H có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Đa Kai, huyện Đức L, tỉnh Bình Thuận.

Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức L, tỉnh Bình Thuận.

Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân huyện Đức L xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Việc tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, cho nên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức L không tham gia phiên tòa là H toàn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:

Về hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 37, cấp ngày 25/6/2020 của Ủy ban nhân dân xã Đa Kai, huyện Đức L; có căn cứ khẳng định chị L và anh H kết hôn vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đa Kai. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh H được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Chị L và anh H tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đi đến hôn nhân; sau khi kết hôn, chị L và anh H đều xác định anh chị sống chung với nhau được một thời gian ngắn thì không con sống như vợ chồng nữa, nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau về tính tính, không cùng quan điểm sống; chị L và anh H đã ly thân nhau từ tháng 2/2021 cho đến nay, hôn nhân thực tế không còn tồn tại. Quá trính Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, chị L có văn bản xin xét xử vắng mặt và không có đơn rút lại yêu cầu khởi kiện, chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh H. Anh H cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị L.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ hôn nhân thực tế giữa chị L và anh H không còn tồn tại, hôn nhân đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh H.

Về con chung, về tài sản chung và nợ: Các đương sự đều xác định không có, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn Châu Kim Ngọc Hg L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 143, 144, 147, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 9, 51, 53, 54, 56, 57 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Châu Kim Ngọc Hg L.

1. Về hôn nhân: Chị Châu Kim Ngọc Hg L ly hôn anh Trương Hữu H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 37, do Ủy ban nhân dân xã Đa Kai, huyện Đức L cấp vào ngày 25/6/2020, cấp cho chị Châu Kim Ngọc Hg L và anh Trương Hữu H hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí: Chị Châu Kim Ngọc Hg L phải chịu số tiền 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm (án phí ly hôn), được trừ vào số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0005496 ngày 12/8/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức L, tỉnh Bình Thuận. Chị Châu Kim Ngọc Hg L đã nộp đủ tiền án phí.

3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ