vanban.org

Bản án 102/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 05/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Dương Minh T, Dương Trọng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2/ Về hình phạt: 1/ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Dương Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Minh T cùng đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Dương Minh T, Dương Trọng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2020/HS - ST
Ngày: 05-6-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Hiệp.

2/ Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2020/QĐXXST – HS ngày 24/02/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2020/HSST - QĐ ngày 11/3/2020; số 65/2020/HSST - QĐ ngày 13/4/2020; số 74/2020/HSST - QĐ ngày 13/5/2020 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Dƣơng Minh T, sinh ngày 06/4/1995. Tại: An Giang. Nơi ĐKHKTT: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh An Giang. Nơi ở: Khu phố H, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Trình độ học vấn: 6/12. Nghề nghiệp: Làm thuê; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Dương Tấn Đ (đã chết) và bà Lê Thị Thu H; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/8/2019 và tạm giam cho đến nay; Có mặt.

2/ Họ và tên: Dƣơng Trọng H, sinh ngày 24/01/1999. Tại: An Giang. Nơi ĐKHKTT: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh An Giang. Nơi ở: Khu phố H, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Trình độ học vấn: 5/12. Nghề nghiệp: Công nhân; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Dương Tấn Đ (đã chết) và bà Lê Thị Thu H; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/8/2019 và tạm giam cho đến nay; Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1966. Địa chỉ: Số 05, C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Từ Văn T, ông Trần Tứ H (Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Minh T và Dương Trọng H là anh em ruột và đều là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 07/8/2019, H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 60F1 – 184.XX đến phòng trọ của T tại phường Bình Chuẩn, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương để hỏi mượn tiền thì T nói không có tiền, đồng thời T nói với H việc có người bạn tên Bằng (không rõ họ tên, địa chỉ cư trú) nhờ T bán dùm xe mô tô kiểu dáng Kawasaki Max, biển số 25F4 – 48XX và T kêu H cùng đi thì H đồng ý. Lúc này, H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 60F1 – 184.XX, T điều khiển xe mô tô kiểu dáng Kawasaki Max, biển số 25F4 – 48XX đến tiệm phế liệu của anh Trần Tứ H1, sinh năm 1989, tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương để bán xe. Do thấy xe mô tô kiểu dáng Kawasaki Max, biển số 25F4 – 48XX không có giấy tờ nên anh H1 nghi ngờ T và H là đối tượng phạm tội nên anh H1 giả vờ đồng ý mua xe mô tô kiểu dáng Kawasaki Max, biển số 25F4 – 48XX với giá 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng và hẹn T 15 phút sau quay lại anh H1 sẽ đưa tiền (mục đích kèo dài thời gian để anh H1 báo với lực lượng Phòng chống tội phạm phường P). T đồng ý với giá bán xe nên để xe mô tô biển số 25F4 – 48XX lại tiệm phế liệu của anh H1 rồi kêu H chở T đi đến huyện C, thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy về sử dụng chung thì H đồng ý. Thực hiện ý định trên, H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 60F1 – 184.xx chở T đi đến xã HP, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh rồi vào quán cà phê gần chợ HP (Không rõ tên và địa chỉ cụ thể). Tại đây, T dùng điện thoại di động hiệu Vivo màu hồng, có thuê bao 0978.357.XXX của H gọi đến số thuê bao 0764.696.YYY của người nam tên C (Không rõ họ tên và địa chỉ cư trú) hỏi mua ma túy đá với số tiền 800.000 (Tám trăm nghìn) đồng thì C hẹn 10 phút sau sẽ đến giao ma túy. Khoảng 10 phút sau, C gọi lại cho T và kêu T ra ngoài quán để lấy ma túy, khi T ra thì thấy có người nam (Không rõ họ tên và địa chỉ cư trú) đứng đợi và người nam này đưa cho T 01 (Một) gói nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng, đồng thời T đưa cho người nam số tiền 800.000 (Tám trăm nghìn) đồng. Sau đó, T cất gói nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng vào túi quần rồi kêu H chở về tiệm phế liệu của anh H1 tại phường P, thành phố T để lấy tiền bán xe. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, khi T và H vừa đến tiệm phế liệu của anh H1 thì thấy lực lượng phòng chống tội phạm phường P nên T và H bỏ chạy. Ngay lúc này, anh Từ Văn T1, sinh năm 1977, cư trú tại phường P, thành phố T (anh T1 là lực lượng phòng chống tội phạm phường P) đuổi theo và yêu cầu dừng lại. Khi anh T1 hỏi lý do bỏ chạy thì T và H cho biết do T đang tàng trữ trái phép chất ma túy nên T sợ bị phát hiện, đồng thời T lấy 01 (Một) gói nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng từ túi quần của T ra cho anh T1 coi thì anh T1 cùng anh H1 đưa T và H về Công an phường P làm việc. Tại đây, T, H khai nhận hành vi phạm tội, đồng thời giao nộp 01 (Một) gói nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng nên Công an phường Phú Mỹ lập Biên bản tiếp nhận người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ vật chứng gồm: 01 (Một) gói nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 (Một) điện thoại di động hiệu Vivo màu hồng, có thuê bao 0978.357.XXX, 01 (Một) điện thoại di động hiệu Masstel màu đen, có số thuê bao 0944.933.YYY, 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 60F1 – 184.XX, 01 (Một) xe mô tô biển số 25F4 – 48XX. Ngày 08/8/2019, Công an phường P chuyển hồ sơ vụ việc cùng đối tượng Dương Minh T, Dương Trọng H và các vật chứng nêu trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một để xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 08/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định trưng cầu giám định số 502/QĐ-CQ.CSĐT gửi đến Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương để giám định thành phần chất ma túy trong 01 (Một) phong bì thư được niêm phong có chữ ký của người bị bắt Dương Minh T và Dương Trọng H, có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Thanh H2 và hình dấu tròn đỏ của Công an phường Phú Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, bên trong bì thư có 01 (Một) gói nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng. Ngày 14/8/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương có Bản kết luận giám định số 602/MT-PC09, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng, gửi giám định là ma túy có khối lượng 1,2911 gam, loại Methamphetamine. Đối với vật chứng nêu trên có khối lượng sau giám định là 1,2352 gam, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

Ngày 25/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Lệnh thu giữ điện tín số 10 yêu cầu Tổng Công ty Viễn thông Mobifone cung cấp thông tin chủ thuê bao; danh sách các cuộc gọi đi, cuộc gọi đến và nội dung các tin nhắn đối với số thuê bao di động 0764.696.XXX (Của người nam tên C) nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời. Do quá trình điều tra không xác định rõ họ, tên và địa chỉ cư trú của tên Cường nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ để xử lý sau.

Đối với 01 (Một) điện thoại di động hiệu Vivo màu hồng, có thuê bao 0978.357.XXX thu giữ của Dương Trọng H; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Masstel màu đen, có số thuê bao 0944.933.YYY thu giữ của Dương Minh T. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 60F1-184.XX, số máy 55956AA, số khung 1351BB, quá trình điều tra, xác định: Xe mô tô trên do ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1966 đứng tên chủ xe trên Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy. Khoảng tháng 7/2019, ông K cho anh Trương Chí L, sinh năm 1983 mượn để làm phương tiện đi lại. Ngày 07/8/2019, anh L cho Dương Trọng H mượn xe mô tô trên đi công việc. Việc H sử dụng chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội thì ông K và anh L không biết. Ngày 15/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một đã giao trả xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 60F1 -184.XX cho ông K theo Quyết định xử lý vật chứng số 156 ngày 15/8/2019. Hiện tại ông K không yêu cầu gì đối với H.

Đối với 01 (Một) xe mô tô kiểu dáng Kawasaki Max, biển số 25F4 – 48XX, số máy RNRHD139FM107XXX, số khung RNRKCBBMB1107XXX, quá trình điều tra, xác định: Xe mô tô trên do người nam tên B (Không rõ họ tên và địa chỉ cư trú) nhờ T đi bán dùm, T không biết xe mô tô trên do đâu B có. Ngày 30/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một xác minh tại Phòng Cảnh sát giao thông- Công an tỉnh Bình Dương, xác định: Xe mô tô biển số 25F4 – 48XX do bà Nguyễn Thị H3, đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường T, thị xã L, tỉnh Điện Biên đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và xe mô tô của bà H3 là loại xe hiệu Yamaha Maximo, có số máy 0048XX, số khung 0048XX, không trùng khớp với số khung, số máy trên xe mô tô đã thu giữ. Ngày 23/9/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định trưng cầu giám định số 372/QĐ-CQ.CSĐT gửi đến Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bình Dương để: Xác định loại xe, nhãn hiệu, số khung, số máy nguyên thủy của xe mô tô kiểu dáng Kawasaki Max, biển số 25F4 – 48XX, số máy RNRHD139FM107XXX, số khung RNRKCBBMB1107XXX. Ngày 24/9/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bình Dương có Kết luận giám định số 519-SKSM-PC09, kết luận: Xe mô tô kiểu dáng Kawasaki Max, biển số 25F4 – 48XX, số máy RNRHD139FM107XXX, số khung RNRKCBBMB1107XXX có số khung, số máy không đổi. Ngày 12/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một xác minh tại Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Bình Dương, xác định: Không tìm thấy dữ liệu số khung, số máy nêu trên trong dữ liệu tra cứu của Cơ quan quản lý. Ngày 19/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một có Công văn số 139/CV - CQ.CSĐT-MT yêu cầu Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Bình Dương đăng báo truy tìm chủ sở hữu xe mô tô trên. Ngày 31/12/2019, Trung tâm dịch vụ phát thanh truyền hình - Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Bình Dương xác nhận đã phát sóng nội dung thông báo theo yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một, tuy nhiên đến nay không ai đến liên hệ với Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một để giải quyết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Cáo trạng số 29/CT-VKS-HS ngày 06/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Dương Minh T, Dương Trọng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017: Xử phạt bị cáo Dương Minh T mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; Xử phạt bị cáo Dương Trọng H mức hình phạt từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư niêm phong có chữ ký người bị bắt Dương Minh T, Dương Trọng H, cán bộ niêm phong Nguyễn Thanh H2 và hình dấu đỏ công an phường P, thành phố T, bên trong có 01 túi nylon chứa ma túy, trọng lượng sau giám định 1,2352 gam. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Vivo màu hồng, số thuê bao 0978 357XXX; 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng kiểu dáng Kawasaki Max, biển số 25F4 – 48XX, số máy RNRHD139FM107XXX, số khung RNRKCBBMB1107XXX. Trả Dương Minh T 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Masstel màu đen, số thuê bao 0944 933XXX.

Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản niêm phong, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 07/8/2019, Dương Minh T, Dương Trọng H có hành vi cất giữ 1,2911 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Do đó, hành vi mà các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này chưa được đẩy lùi chính là có sự tiếp tay của các bị cáo. Do đó, để có tác dụng giáo dục các bị cáo cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà mỗi bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Trong vụ án này, Dương Minh T là người nảy sinh ý định và dùng tiền mua chất ma túy cùng sử dụng với H nên mức hình phạt của T phải cao hơn bị cáo H.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư niêm phong có chữ ký người bị bắt Dương Minh T, Dương Trọng H, cán bộ niêm phong Nguyễn Thanh H2 và hình dấu đỏ công an phường P, thành phố T, bên trong có 01 túi nylon chứa ma túy, trọng lượng sau giám định 1,2352 gam. Trả Dương Trọng H 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Vivo màu hồng, số thuê bao 0978 357XXX; trả Dương Minh T 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Masstel màu đen, số thuê bao 0944 933YYY do những tài sản trên không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng kiểu dáng Kawasaki Max, biển số 25F4 – 48XX, số máy RNRHD139FM107XXX, số khung RNRKCBBMB1107XXX do không xác định được chủ sở hữu.

Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Dương Minh T, Dương Trọng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2/ Về hình phạt:

2.1/ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Dương Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2019.

2.2/ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Dương Trọng H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2019.

3/ Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư niêm phong có chữ ký người bị bắt Dương Minh T, Dương Trọng H, cán bộ niêm phong Nguyễn Thanh H3 và hình dấu đỏ công an phường P, thành phố T, bên trong có 01 túi nylon chứa ma túy, trọng lượng sau giám định 1,2352 gam. (Theo kết luận giám định số 602/MT – PC09 ngày 14/8/2019).

- Trả Dương Trọng H 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Vivo màu hồng, số thuê bao 0978 357XXX.

- Trả Dương Minh T 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Masstel màu đen, số thuê bao 0944 933YYY.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng kiểu dáng Kawasaki Max, biển số 25F4 – 48XX, số máy RNRHD139FM107XXX, số khung RNRKCBBMB1107XXX.

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 061.20 ngày 07/01/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

4/ Về án phí: Buộc mỗi bị cáo nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ