- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc Ph - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc Ph phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH _______________________ Bản án số: 102/2020/HS-ST Ngày: 28 - 9 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Thế Căn và bà Nguyễn Thị Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Huệ, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Đặng Quang Quyết, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 103/2020/HSST ngày 11 tháng 9 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2020/HSST-QĐ ngày 14 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Ngọc Ph (không có tên gọi khác); Sinh ngày 08 tháng 01 năm 1984 tại T, Hưng Yên.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ngõ 80, đường V, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Chỗ ở: Thôn 2, xã Qu, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trọng Ph, sinh năm: 1945 (đã chết) và bà Vũ Thị Ch, sinh năm: 1948; vợ là Nguyễn Thị Nh, sinh năm: 1987; con: chưa; tiền án, tiền sự: không có;
Bị cáo hiện tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
* Bị hại: 1. Anh Nình A M, sinh năm: 1970; Người đại diện theo ủy quyền (con đẻ) của bị hại Nình A M: anh Nình A S, sinh năm: 1999.
Đều cư trú tại thôn Th, xã H, M, Quảng Ninh.
Vắng mặt, có lý do.
2. Chị Chìu Móc Kh, sinh năm: 1970; Nơi cư trú: thôn Th, xã H, M, Quảng Ninh. Vắng mặt, có lý do.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm: 1987; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ngõ 80, đường V, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Chỗ ở: Thôn 2, xã Qu, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
* Người làm chứng: Háu Đức S; Háu Văn C; Háu Thị Ng; Nguyễn Minh T; Đỗ Văn M; Nguyễn Hành Tr.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 23/4/2020, Phạm Ngọc Ph (có giấy phép lái xe ô tô theo quy định) điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Hyundai biển kiểm soát 30K - 6359 chở vợ là chị Nguyễn Thị Nh đi trên đường Quốc lộ 18C hướng từ Uỷ ban nhân dân xã Hải Sơn về xã Bắc Sơn, thành phố Móng Cái. Khi Ph điều khiển xe đi đến khu vực Km 92 + 600 Quốc lộ 18C đoạn giao nhau với đường liên xã phía bên phải theo chiều đi, thuộc thôn Th, xã H, lúc này Ph nhìn thấy biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên và quan sát thấy xe mô tô biển kiểm soát 14H5 - 8267 do anh Nình A M điều khiển phía sau chở vợ là chị Chìu Móc Kh đi từ đường liên xã ra Quốc lộ 18C hướng về phía Uỷ ban nhân dân xã Hải Sơn, tuy nhiên Ph vẫn điều khiển xe ô tô không giảm tốc độ đến mức an toàn nên đã đâm vào xe mô tô do anh Mả điều khiển gây tai nạn. Hậu quả: anh Nình A M, chị Chìu Móc Kh bị thương, xe mô tô và xe ô tô bị hư hỏng nhẹ.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 237/20/TgT ngày 28/5/2020, của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Quảng Ninh kết luận thương tích của anh Nình A M: Tụ máu dưới màng cứng vùng trán; Gãy xương trán hai bên dài 7,2cm; Gãy xương trần ổ mắt; Gãy xương gò má trái; Vỡ nhãn cầu phòi kẹt tổ chức nội nhãn mắt trái không có khả năng bảo tồn đã được khoét bỏ nhãn cầu mắt trái; Gãy gai ngang bên phải qua lỗ mỏm ngang đốt sống C1; Sẹo vết thương vùng trán, gò má trái kích thước (12x3)cm; Chấn thương cẳng chân phải gồm tổn thương: Gãy đầu trên 02 xương cẳng chân phải, Di chứng cứng khớp gối phải, Sẹo vết thương mặt trong đùi phải kích thước (3x0,3)cm, 1/3 trên mặt trong cẳng chân phải kích thước (2x0,3)cm, vết mổ 1/3 giữa mặt trước cẳng chân phải kích thước (18x0,2)cm. Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 82% (Tám mươi hai phần trăm) (bút lục 47).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 238/20/TgT ngày 28/5/2020, của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Quảng Ninh kết luận thương tích của chị Chìu Móc Kh: Mất răng 2.1, 2.2; Gãy thân răng 2.3; Chấn thương ngực kín, tràn dịch khoang màng phổi; Vết biến đổi rối loạn sắc tố da vùng đỉnh trái kích thước (3x01)cm. Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 10% (Mười phần trăm).
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị che khuất, chiều rộng đường là 5,2m. Tại khu vực ngã ba giao nhau với đường liên xã ở bên phải hướng từ xã Hải Sơn về xã Bắc Sơn có chiều rộng 5,8m, là đường hai chiều, trải nhựa, bằng phẳng, có vạch sơn vàng đứt đoạn phân chia từng chiều đường xe đi. Phía trước khu vực xảy ra tai nạn có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên. Các số đo được tính vào bên trái Quốc lộ 18C hướng từ UBND xã Hải Sơn về UBND xã Bắc Sơn. Hiện trường để lại xe mô tô biển kiểm soát 14H5-8267, 02 vết phanh, 01 vết dầu bắn, 01 vết cày xước, 01 đám máu. Trong đó: Vết phanh thứ nhất nằm bên phần đường bên trái dài 23,2m, kéo dài liên tục hướng từ UBND xã Hải Sơn về UBND xã Bắc Sơn, điểm đầu vết cách mép đường là 1,35m và cách biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau đường không ưu tiên là 37,35m, điểm cuối vết cách mép đường 0,5m; Vết phanh thứ hai nằm ở phần đường bên trái dài 16,5m, song song với vết phanh thứ nhất, điểm đầu vết cách mép đường là 2,6m, điểm cuối cách mép đường là 1,65m; Vết dầu bắn nằm ở khu vực giữa vạch kẻ sơn vàng dạng dầu bắn tóe hình nón có chiều hướng như vết phanh, kết thúc tại đám máu với chiều dài 3,2m, điểm đầu vết cách mép đường 2,8m; Vết cày xước kéo dài không liên tục, dài 8,1m, nằm ở phần đường bên phải cạnh vết dầu bắn có chiều hướng kéo dài từ tim đường chếch sang lề đường phải và kết thúc tại gầm xe mô tô 14H5- 8267, điểm đầu vết cách mép đường là 3,5m; Đám máu ở khu vực tim đường cuối vết dầu bắn trên diện (0,5x0,4)m; Xe mô tô 14H5- 8267 nằm tư thế đổ nghiêng sang bên trái trên mép đường phải nơi giao nhau với đường liên xã, đầu xe gãy rời khỏi xe.
Kết quả khám xe ô tô biển kiểm soát 30K - 6359 có các dấu vết: Ba đờ xốc trước bung rời khỏi xe, cụm đèn pha phía trước bên phải bị vỡ; góc bên dưới tai xe phía trước bên phải cong vênh; đèn gầm phía trước bên phải bị gập theo hướng từ trên xuống dưới; gương chiếu hậu phía bên phải bị vỡ.
Kết quả khám xe mô tô biển kiểm soát 14H5- 8267 có các dấu vết: Ốp nhựa đầu xe phía sau gãy, vỡ; toàn bộ mặt đồng hồ gãy rời khỏi xe; toàn bộ phần đầu xe phía trước gãy vỡ hoàn toàn; khung càng xe phía trước, lốp trước gãy rời khỏi khung xe; đầu cánh yếm bên phải gãy vỡ; tay ghi đông trái bị đẩy cong gập theo hướng từ trước về sau; đầu tay ghi đông trái bị mài xước; ốp nhựa cổ xe phía sau, ốp ổ khóa gãy vỡ; đầu cánh yếm trái gãy vỡ; đầu bọc cần cao su để chân trước bên trái bị rách cao su; bề mặt bên ngoài tay vịn yên xe phía bên trái bị mài xước.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc Ph khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án. Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường số tiền 60.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại là anh Nình A M và chị Chìu Móc Kh. Bị hại có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Phương.
Bị hại chị Chìu Móc Kh có lời khai trong quá trình điều tra thể hiện: Chiều ngày 23/4/2020, chồng chị là anh Nình A M điều khiển xe mô tô chở chị từ nhà em trai tại thôn Th, xã H, M ra đường Quốc lộ 18C để chuyển hướng rẽ trái về hướng UBND xã Hải Sơn để đi về nhà. Khi anh Mả chở chị vừa bắt đầu ra đến quốc lộ 18C thì chị nhìn thấy xe ô tô tải đi về phía xã Hải Sơn về ở khoảng cách gần xe của vợ chồng chị. Chị sợ quá nhắm mắt lại rồi ngất đi. Chị không nhớ chồng chị điều khiển xe đi như thế nào. Khi tỉnh dậy đã ở trạm y tế xã Hải Sơn, sau đó được đưa vào Trung tâm Y tế huyện Hải Hà để điều trị. Chồng chị bị thương nặng phải chuyển vào Bệnh viện tỉnh Quảng Ninh. Do có bảo hiểm y tế nên không mất chi phí điều trị cho vợ chồng chị mà chỉ phải chi trả các khoản thuốc, đi lại, ăn uống, người chăm sóc. Quá trình điều tra, anh Ph và gia đình đã bồi thường cho gia đình chị số tiền 60.000.000đ. Gia đình chị không có yêu cầu gì khác.
Chị Kh bận công việc nên gửi đơn xin xét xử vắng mặt, đã nhận tiền bồi thường nên không yêu cầu gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại anh Nình A M có lời khai thể hiện: Anh chỉ nhớ được vào hôm xảy ra tai nạn, anh chở vợ là Chìu Móc Kh đi vào nhà em vợ lấy thuốc, còn lại anh không nhớ gì khác, không biết xảy ra tai nạn thế nào, va chạm với Ph tiện gì, khi tỉnh táo trở lại mới nghe gia đình kể lại việc anh đi xe mô tô va chạm với xe ô tô của anh Phương. Do chân anh còn đau không đi lại được nên vợ con anh đã thay mặt anh thỏa thuận bồi thường với anh Phương. Anh không có yêu cầu đề nghị gì khác và đồng ý miễn trách nhiệm hình sự cho Phương.
Người đại diện theo ủy quyền (con đẻ) của anh Nình A M là Nình A S có lời khai thể hiện: Do sức khỏe của bố anh còn yếu nên ủy quyền cho anh làm việc liên quan đến vụ tai nạn xảy ra ngày 23/4/2020. Quá trình điều tra, anh Ph đã bồi thường cho gia đình anh tổng số tiền là 60.000.000đ. Do bận công việc nên Nình A S làm đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, ngoài ra anh Sẹc không có đề nghị gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Nguyễn Thị Nh có lời khai thể hiện: Hàng ngày, chồng chị là Phạm Ngọc Ph đều điều khiển xe ô tô BKS 30K-6359 chở chị đi giao trứng cho khách ở 02 xã Bắc Sơn và Hải Sơn. Khoảng 16 giờ ngày 23/4/2020, chị ngồi ghế phụ, anh Ph chở chị đi trên đường 18C hướng về xã Hải Sơn. Khoảng 18 giờ cùng ngày chị đang ngủ thì nghe tiếng va chạm nên tỉnh dậy thấy xe ô tô đỗ ở bên phải theo chiều đi, chị hỏi anh Ph là “tai nạn rồi à” và vợ chồng chị xuống xe chạy về phía sau xe thấy 01 xe mô tô nằm sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của xe ô tô còn người đàn ông và người phụ nữ nằm giữa đường. Một số người dân chạy ra xem nói anh Ph nên tránh đi sợ người nhà của người bị thương ra thấy sẽ đánh, nên chị ở lại hiện trường còn anh Ph điều khiển xe đến nhà trưởng thôn trình báo.
Chiếc xe ô tô BKS 30K-6359 là tài sản chung của vợ chồng chị do vợ chồng chị tiết kiệm tiền và vay mượn của người thân để mua vào cuối năm 2019 với giá 180.000.000đ, xe có đầy đủ giấy tờ theo quy định.
Người làm chứng gồm các anh chị: Háu Đức S, Háu Văn C, Háu Thị Ng, Nguyễn Minh T đều có lời khai thể hiện: Mặc dù các anh chị không trực tiếp chứng kiến va chạm giữa xe ô tô của Ph và xe mô tô của anh Mả nhưng ngay sau khi xảy ra va chạm các anh chị đã chạy ra xem luôn và chứng kiến vợ chồng anh Mả Chị Kh nằm giữa đường, xe mô tô nằm ở mép đường còn xe ô tô là của anh Ph bán trứng đỗ ở ngã ba. Khi đó vợ chồng anh Ph từ xe ô tô quay lại vị trí vợ chồng anh Mả nằm. Một số người dân xem ở đó nói với anh Ph lánh đi chỗ khác sợ người nhà anh Mả Chị Kh ra lại xảy ra chuyện không hay. Sau đó, anh Ph tự lái xe đi thẳng về phía xã Bắc Sơn, còn vợ chồng Chị Kh được đưa đi cấp cứu.
Ông Nguyễn Hành Tr có lời khai thể hiện: Chiếc xe ô tô tải BKS 30K-6359 nhãn hiệu Hyundai, màu xanh, loại xe tải thùng do ông mua và đăng ký mới vào năm 2008 để chở hàng. Ông sử dụng xe đến năm 2019 thì bán lại cho anh Minh là người làm nghề mua bán xe ô tô cũ ở Long Biên, thành phố Hà Nội.
Anh Đỗ Văn M, có lời khai thể hiện: Khoảng tháng 10/2019, anh mua lại chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu Hyundai, màu xanh BKS 30K-6359 nhãn hiệu Hyundai, màu xanh của ông Nguyễn Hành Tr, xe có đầy đủ giấy tờ hợp pháp theo quy định. Khoảng 01 tháng sau anh bán lại cho anh Phạm Ngọc Ph ở Quảng Ninh. Quá trình mua bán xe có viết giấy bán.
Tại cáo trạng số 102/CT-VKS-MC ngày 09/9/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc Ph về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với bị cáo Phạm Ngọc Ph; sau khi phân tích nội dung vụ án, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị với Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Ph từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, kể từ ngày tuyên án, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Giao bị cáo Phạm Ngọc Ph cho Ủy ban nhân dân xã Qu, huyện H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.
*)Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Ngọc Ph.
*)Về xử lý vật chứng:
Áp dụng: khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Phạm Ngọc Ph 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô mang tên Phạm Ngọc Ph.
Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định bị cáo có tội: Xét lời khai nhận của bị cáo Phạm Ngọc Ph tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; Biên bản, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; Biên bản, bản ảnh khám nghiệm Ph tiện; Bản kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm giám định pháp y, Sở Y tế tỉnh Quảng Ninh cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 23/4/2020, tại Km 92 + 600, Quốc lộ 18C đoạn thuộc thôn Thán Phún Xã, xã Hải Sơn, thành phố Móng Cái, Phạm Ngọc Ph điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Hyundai biển kiểm soát 30K - 6359 đi đến đoạn đường giao nhau có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên, nhưng Ph không giảm tốc độ đến mức an toàn dẫn đến đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 14H5 - 8267 do anh Nình A M điều khiển chở chị Chìu Móc Kh đi từ đường không ưu tiên ra, làm anh Mả bị thương tích tổn hại 82% sức khoẻ, Chị Kh bị thương tích tổn hại 10% sức khỏe. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Mả và Chị Kh là 92% (chín mươi hai phần trăm).
Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ….
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;”
Hành vi điều khiển ô tô đi không giảm tốc độ khi đi qua đoạn đường giao nhau, có biển cảnh báo của bị cáo Phạm Ngọc Ph đã “vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ” được quy định tại khoản 1, 2 Điều 12 Luật giao thông đường bộ và Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải.
Điều 12 Luật giao thông đường bộ quy định:
“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường ...
2. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ xe và việc đặt biển báo tốc độ; tổ chức thực hiện đặt biển báo tốc độ trên các tuyến quốc lộ.”
Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định:
“Người điều khiển Ph tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm...”
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm tới trật tự an toàn giao thông gây thiệt hại đến sức khỏe, tài sản của người khác. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội, bị cáo đã bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đại diện bị hại có đơn đề nghị miễn truy tố đối với bị cáo, bị hại có một phần lỗi, bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo Phạm Ngọc Ph tại phiên tòa đều cho thấy thu nhập của gia đình chủ yếu dựa vào việc chở hàng đi bán của bị cáo, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Phạm Ngọc Ph.
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo tốt, có nơi cư trú rõ ràng, quá trình sinh sống tại địa Ph luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, do đó không cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa Ph để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Về phần bồi thường dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền 60.000.000 đồng và chi phí sửa chữa xe mô tô cho bị hại và gia đình bị hại, gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm đây là sự tự nguyện bồi thường phù hợp với nguyên tắc cơ bản được quy định tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự, do đó phần dân sự trong vụ án đã được giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập.
- Về vật chứng và xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra Công an thành phố Móng Cái đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Chìu Móc Kh chiếc xe mô tô BKS 14H5-8267 và trả lại Phạm Ngọc Ph chiếc xe ô tô BKS 30K-6359 cùng giấy tờ liên quan đến Ph tiện là đúng theo quy định của pháp luật, do đó Hội đồng xét xử không đề cập. Đối với Giấy phép lái xe thu giữ của bị cáo, do không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo, đây là giấy tờ hợp pháp của bị cáo, vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần trả lại cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị hại, người đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, anh Nình A M điều khiển xe mô tô đến nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên với đường ưu tiên, không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên và điều khiển xe mô tô mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50mg/100ml máu hoặc 0,25mg/l khí thở vi phạm quy định tại Luật Giao thông đường bộ. Tuy nhiên, hành vi của Nình A M không gây tổn hại về tính mạng, sức khỏe cho Ph và chị Nhụ, thiệt hại xe ô tô của Ph trị giá 7.250.000 đồng, chưa đủ căn cứ xử lý hình sự. Công an thành phố Móng Cái đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nình A M, nên không đề cập xử lý.
Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc Ph phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 2, Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc Ph 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Phạm Ngọc Ph cho Ủy ban nhân dân xã Qu, huyện H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa Ph trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đã áp dụng đối với bị cáo Phạm Ngọc Ph theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 35, ngày 21/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
*) Về xử lý vật chứng:
Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Trả lại cho bị cáo Phạm Ngọc Ph 01 (một) Giấy phép lái xe số 220135015623, mang tên Phạm Ngọc Ph, cấp ngày 19/7/2016 (Giấy phép lái xe đính kèm hồ sơ vụ án).
*) Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Ngọc Ph phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
*) Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thành phố Móng Cái; - Công an thành phố Móng Cái; - Bị cáo; Bị hại; Người đại diện bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Thi hành án HS+DS; - Lưu án văn + Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Dương Thị Thu Hà |