- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Thạch Văn T, sinh năm 1995; nơi sinh: Tỉnh Trà Vinh; hộ khẩu thường trú: Ấp Ngã Ba, xã An Quảng Hữu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh; chỗ ở: 268 đường Trịnh Đình Trọng, phường Phú Trung, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2020/HS-ST Ngày 04/12/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Bình;
Ông Trần Công Quan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Diệp Xuân Hà – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa:
Bà Huỳnh Thị Thúy Thương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 12 năm 2020, tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2020/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Thạch Văn T, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 01/01/1995 tại tỉnh Trà Vinh; nơi đăng ký thường trú: Ấp N, xã A, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh; chỗ ở: đường T, phường Phú Trung, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 05/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch H (chết) và bà Nguyễn Thị T; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 29/5/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án hình sự sơ thẩm số 25/2015/HSST; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/8/2020; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 12/8/2020, Đội Cảnh sát hình sự Công an Quận 11 tuần tra đến trước nhà số 60C đường Hòa Bình, Phường 5, Quận 11 thì phát hiện Thạch Văn T điều khiển xe máy hiệu Honda Vario mang biển số 84G1-581.92 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần phía trước, bên trái của T có 01 gói thuốc là hiệu Jet, bên trong có 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng dán dính vào 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, T khai tinh thể không màu là ma túy đá nên đưa T cùng vật chứng về trụ sở Công an Phường 5, Quận 11 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 giải quyết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã tiến hành trưng cầu giám định 01 gói nylon chứa tinh thể không màu thu giữ của bị cáo T. Tại Bản kết luận giám định số 1402/KLGĐ-H ngày 20/8/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Thạch Văn T và hình dấu Công an Phường 5, Quận 11 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2466 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo T khai nhận: T sử dụng ma túy đá từ tháng 7/2020, mỗi tuần sử dụng một lần, mỗi lần sử dụng mua ma túy với giá 200.000 đồng. Vào tối ngày 12/8/2020, T liên lạc qua điện thoại hỏi mua ma túy từ một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 200.000 đồng để sử dụng. Sau đó T đến vòng xoay An Lạc, quận Bình Tân để lấy ma túy. Sau khi mua ma túy, T đang trên đường về nhà thì bị phát hiện và bắt giữ. T đã mua ma túy của người đàn ông không rõ lai lịch để sử dụng nhiều lần nhưng không nhớ số điện thoại do mỗi lần mua xong đều xóa số liên lạc. Thỉnh thoảng có người gọi điện thoại hỏi T có nhu cầu mua ma túy không rồi hẹn giao dịch tại vòng xoay An Lạc, quận Bình Tân.
Theo kết quả xét nghiệm chất ma túy của Bệnh viện Quận 11, bị cáo T dương tính với ma túy loại Methamphetamine.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo T hiện chưa rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, xử lý sau.
Bản cáo trạng số 108/CT-VKSQ11 ngày 12 tháng 11 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo Thạch Văn T tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Thạch Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng như sau: Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói nylon chứa ma túy, 01 gói thuốc lá Jet; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Coolpad màu đen đỏ đã qua sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:
Vào ngày 12/8/2020, tại trước nhà số 60C đường Hòa Bình, Phường 5, Quận 11 bị cáo Thạch Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,2466 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng.
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc gây nguy hiểm cho xã hội khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện, nên có lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã vi phạm đến chính sách độc quyền kiểm soát, quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, đặc biệt là các chất gây nghiện thuộc danh mục các chất ma túy, tiền chất và các chất hóa học tham gia vào quá trình chế tạo các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, đồng thời làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không cần bắt bị cáo phải chịu phạt tiền là hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 gói thuốc lá hiệu Jet bị cáo dùng để cất giữ ma túy cần tịch thu và tiêu hủy;
- 01 điện thoại di động hiệu Coolpad màu đen đỏ đã qua sử dụng, bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng bị cáo T dùng để cất giữ ma túy nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 xe máy hiệu Honda Vario màu xám, mang biển số 84G1-581.92 bị cáo sử dụng đi mua ma túy. Qua xác minh xe máy do bà Thạch Thị Nga (chị ruột bị cáo T) là chủ sở hữu. Bị cáo mượn xe máy bà Nga để đi công việc, bà Nga không biết việc bị cáo sử dụng xe máy đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã trả lại xe cho bà Nga là đúng.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Tuyên bố bị cáo Thạch Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Thạch Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2020.
Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 1402 bên ngoài có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra sau giám định; 01 (một) gói thuốc lá Jet.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu đen đỏ hiệu Coolpad đã qua sử dụng và tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng (Một nghìn đồng).
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 91/ĐCSMT ngày 14/8/2020 và Lệnh nhập kho vật chứng số 116/ĐCSMT ngày 30/9/2020).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- TAND - VKSND TPHCM;
(Đã ký)
- Sở Tư pháp TPHCM;
- PC 27 - CA TPHCM;
- VKSND Q.11;
- Công an Q.11;
- Chi cục THADS Q.11;
- Những người tham gia tố tụng;
Nguyễn Thanh Phúc
- Lưu hồ sơ vụ án. TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––
–––––––––––––––––––––––––––––––
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 09 giờ 10 phút, ngày 04 tháng 12 năm 2020.
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Bình;
Ông Trần Công Quan.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2020, đối với:
Bị cáo Thạch Văn T; sinh năm: 1995, tại tỉnh Trà Vinh;
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về điều luật áp dụng:
Căn cứ vào Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
2. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Thạch Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
3. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Thạch Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2020.
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
4. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 1402 bên ngoài có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra sau giám định; 01 (một) gói thuốc lá Jet.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu đen đỏ hiệu Coolpad đã qua sử dụng và tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng (Một nghìn đồng).
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 91/ĐCSMT ngày 14/8/2020 và Lệnh nhập kho vật chứng số 116/ĐCSMT ngày 30/9/2020).
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
5. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
6. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 04 tháng 12 năm 2020.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thanh Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––
–––––––––––––––––––––––––––––––
Quận 11, ngày 04 tháng 12 năm 2020
Số: 113/2020/HSST-QĐTG
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Bình;
- Ông Trần Công Quan.
Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Biên bản nghị án ngày 04 tháng 12 năm 2020 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Tạm giam bị cáo: Thạch Văn T, sinh năm 1995; nơi sinh: Tỉnh Trà Vinh; hộ khẩu thường trú: Ấp Ngã Ba, xã An Quảng Hữu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh; chỗ ở: 268 đường Trịnh Đình Trọng, phường Phú Trung, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Thời hạn tạm giam là 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án.
Điều 2
Nhà tạm giữ Công an Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND Q.11; - Nhà tạm giữ CAQ11; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Phúc |