vanban.org

Bản án 102/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 25/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Quyết định tạm giam bị cáo Bùi Xuân T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín. Vật chứng hiện có tại hiện có tại Ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Xuân T bị xét xử về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2020/HS-ST
Ngày: 25/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Đương

2. Bà Lê Thị sử

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Kiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nam- Kiểm sát viên.

Hôm nay ngày 25 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Xuân T; tên gọi khác: không; sinh ngày 08 tháng 9 năm 1986, tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An; nơi thường trú: thôn 02, xã TH, huyện A, Nghệ An, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Anh S, sinh năm: 1949 và bà Trần Thị S, sinh năm: 1950; vợ: Đặng Thị H, sinh năm 1987; con có 02, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2017; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 30/10/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 03 tháng 21 ngày tù về tội “Lạm dụng tín nhiêm chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 26/2007/HSST ngày 30/10/2007; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25 tháng 08 năm 2020 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 25/08/2020 Bùi Xuân T đón xe khách từ nhà ở thôn 02, xã Thạch Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xuống thành phố Vinh để xin việc làm, trên đường đi do có nhu cầu sử dụng ma túy, T mượn điện thoại của một người đi cùng gọi cho người đàn ông tên H ở Đô Lương ( T không rõ lai lịch, địa chỉ của H) và nói “cho em cái thẻ hai mươi”, ý là nói H bán cho T 200.000 đồng tiền ma túy, H nói “Đến cây xăng Lưu Sơn thì gọi điện lại”. Khi đi đến gần cây xăng xã Lưu Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An T mượn điện thoại của người khách ngồi cùng gọi điện thoại lại cho H và nói “em đến đây rồi”, H nói “xuống đợi đó anh lại”. Đến cây xăng T xuống xe đứng đợt một lúc thì H đi xe mô tô màu trắng đến gặp T và nói T đi vào theo hướng Trung tâm nhân đạo thuộc xã Lưu Sơn, huyện Đô Lương, T đi theo Hoài, khi vào đến nhà kho gần đó H đưa cho T 01 gói nhỏ được gói bằng ni lông màu trong suốt bên trong gói bằng giấy thiếc chứa chất nghi ma túy, T đưa cho H số tiền 200.000 đồng. H nhận tiền và bỏ đi. Sau khi mua được ma túy T đi bộ vào khu vực nhà kho thuộc xóm Lưu Diên, xã Lưu Sơn, huyện Đô Lương để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an huyện Đô Lương phát hiện, lúc này T vứt gói ma túy về phía sau khoảng 0,5 mét, lực lượng Công an tìm thấy và để xuống mặt đất chuẩn bị niêm phong và lập biên bản, T lợi dụng sơ hở cầm lấy gói ma túy vứt vào bụi cây cách vị trí T đứng khoảng 4 mét. Lực lượng Công an tìm thấy và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.

Vật chứng thu giữ: Thu giữ 01 gói nhỏ bằng giấy thiếc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 25/08/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương và Kết luận giám định số 1240/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 31/08/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Bùi Xuân T gửi tới giám định là ma túy (Heroine) có khối lượng 0,324 gam.

Bản Cáo trạng số 101/CT-VKS- ĐL ngày 29 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Bùi Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương giữ nguyên Quyết định truy tố đồng thời đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Bùi Xuân T từ 1 (một) năm 6 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy một phong bì thư niêm phong dán kín bên trong đựng vỏ phong bì niêm phong ban đầu.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung:

. Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 21 giờ 30 phút, ngày 25/08/2020 tại khu vực xóm Lưu Diên, xã Lưu Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Bùi Xuân T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,324 gam ma túy (Heroine) mục đích để sử dụng, thì bị Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định, hành vi của Bùi Xuân T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương đã truy tố là đúng.

. Đánh giá tính chất vụ án: Tội phạm thuộc loại nghiêm trọng, hành của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn tại địa phương là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ sức khỏe và nhận thức được Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ ma túy và tác hại do ma túy mang lại cho con người và xã hội, nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, chịu rèn luyện mà ham chơi đua đòi sa con đường nghiện ma túy bất chấp các quy định của pháp luật thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã bị Tòa án xét xử tuy không coi là tiền án và nhân thân xấu nhưng thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

. Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố mẹ bị cáo là người có công với cách mạng được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, hạng nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử. Xử phạt bị cáo mức thấp như Đại diện viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có công ăn việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông tên Hoài bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ nên không có cơ sở để giải quyết trong vụ án án, Cơ quan điều tra sẽ làm rõ xử lý sau.

. Về vật chứng: Đối với 0,324 gam ma túy (Heroine) đã lấy toàn bộ mẫu gửi giám định, còn vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu, vỏ ni lông trong suốt, vỏ giấy thiếc được bỏ vào 01 bì thư màu nâu của Công an huyện Đô Lương và niêm phong lại theo đúng quy định của pháp luật là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Bùi Xuân T 1 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (25/08/2020).

Quyết định tạm giam bị cáo Bùi Xuân T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín. Vật chứng hiện có tại hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo phiếu xuất kho số 87/PXK 29/10/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 10 năm 2020 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương.

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp và quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Xuân T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Cỡ chữ