- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "dân sự"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, khoản Điều 147; điểm c khoản 1, Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 102/2020/DS-ST Ngày 31-12-2020 V/v tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Khanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Viết Thanh
2. Ông Bùi Văn Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết Nga.
Trong ngày 31/12/2020, tại Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 709/2020/TLST-DS, ngày 12/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 387/2020/QĐXXST-DS, ngày 08/12/2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Mỹ Oanh, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Tổ 11, ấp Đông Thạnh, xã Tân Thuận Đông, thành phố Cao
Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Chị Lý Thị Tuyết Ngọc, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Tổ 13, ấp Đông Hòa, xã Tân Thuận Đông, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Chị Võ Thị Mỹ Oanh có mặt; Chị Lý Thị Tuyết Ngọc vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Võ Thị Mỹ Oanh trình bày:
Vào ngày 19/8/2017 (âm lịch) nhằm ngày 08/10/2017, chị Oanh cho chị Ngọc vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), mục đích mua bán, lãi suất thỏa thuận bằng lời nói 2%/tháng, đóng lãi hàng tháng. Chị Ngọc có đóng lãi được 3 tháng, đến nay không trả tiền gốc và lãi. Ngày 18/9/2017 (âm lịch) nhằm ngày 6/11/2017, chị Oanh cho chị Ngọc vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), mụch đích mua bán, lãi suất thỏa thuận bằng lời nói 2%/tháng, đóng lãi hàng tháng. Chị Ngọc có đóng lãi được 3 tháng, đến nay không trả tiền gốc và lãi. Trên biên nhận này, có ghi 2 tháng tiền hụi là 10.000.000 đồng (tiền hụi này chị Ngọc đã trả cho chị Oanh). Tổng số tiền chị Ngọc còn nợ chị Oanh là 60.000.000 đồng. Chị Ngọc đã trả 10.000.000 đồng, còn lại 50.000.000 đồng. Nay chị Oanh yêu cầu chị Lý Thị Tuyết Ngọc phải trả cho chị Oanh số tiền vốn vay 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.
Chị Oanh không thừa nhận cho vay lãi suất 12%/tháng như chị Ngọc trình bày.
Chị Lý Thị Tuyết Ngọc trình bày:
Chị Ngọc thừa nhận ngày 19/8/2017 (âm lịch) nhằm ngày 08/10/2017 vay của chị Oanh số tiền 30.000.000 đồng và ngày 18/9/2017 (âm lịch) nhằm ngày 6/11/2017 số tiền 30.000.000 đồng, tổng cộng 60.000.000 đồng, lãi 12%/tháng, đã trả 10.000.000 đồng, còn nợ số tiền vốn 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Chị Ngọc đồng ý trả cho chị Oanh số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), nhưng hiện nay không có khả năng trả ngay, chị Ngọc yêu cầu được trả dần hàng tháng cho chị Oanh.
Chị Ngọc trình bày, vay lãi suất 12%/tháng nhưng chị Ngọc không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc vay tiền lãi 12%/tháng.
Tại phiên toà, các đương sự không xuất trình tài liệu, chứng cứ mới cho Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Do chị Lý Thị Tuyết Ngọc vắng mặt lần thứ hai không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị Lý Thị Tuyết Ngọc.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Võ Thị Mỹ Oanh có đơn yêu cầu chị Lý Thị Tuyết Ngọc trả tiền vay được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Về nội dung:
Vào ngày 19/8/2017 (âm lịch) nhằm ngày 08/10/2017, chị Oanh cho chị Ngọc vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), lãi suất thỏa thuận bằng lời nói 2%/tháng, đóng lãi hàng tháng. Chị Ngọc có đóng lãi được 3 tháng. Ngày 18/9/2017 (âm lịch) nhằm ngày 6/11/2017, chị Oanh cho chị Ngọc vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), lãi suất thỏa thuận bằng lời nói 2%/tháng, đóng lãi hàng tháng. Chị Ngọc có đóng lãi được 3 tháng. Tổng số tiền chị Ngọc vay 60.000.000 đồng. Chị Ngọc đã trả 10.000.000 đồng (không nhớ thời gian), còn nợ 50.000.000 đồng. Chị Oanh trình bày, hai lần vay tiền, chị Ngọc đã đóng lãi 03 tháng, lãi suất 2%/tháng nên nay không yêu cầu tính lãi từ ngày ngưng đóng lãi đến nay.
Tại phiên hòa giải ngày 08/12/2020, chị Ngọc thừa nhận có vay tiền của chị Oanh 60.000.000 đồng, trả được 10.000.000 đồng, còn nợ 50.000.000 đồng, chị Ngọc đồng ý trả cho chị Oanh số tiền 50.000.000 đồng, nhưng chị Ngọc không khả năng trả một lần, chị Ngọc yêu cầu được trả dần hàng tháng. Xét yêu cầu được trả nợ dần của chị Ngọc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Từ phân tích trên, buộc chị Lý Thị Tuyết Ngọc trả cho chị Võ Thị Mỹ Oanh số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Về lãi suất, chị Oanh không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lý Thị Tuyết Ngọc phải chịu án phí theo quy định.
Chị Võ Thị Mỹ Oanh không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, khoản Điều 147; điểm c khoản 1, Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2]- Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Mỹ Oanh, yêu cầu chị Lý Thị Tuyết Ngọc trả số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
- Buộc chị Lý Thị Tuyết Ngọc có trách nhiệm trả cho chị Võ Thị Mỹ Oanh số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lý Thị Tuyết Ngọc phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Trả lại cho chị Võ Thị Mỹ Oanh tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.250.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007201, ngày 08/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Thanh- Bùi Văn Dũng
Lê Công Khanh
TM. HỒI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Chi Cục THA DS TP Cao Lãnh; - Viện kiểm sát ND TP Cao Lãnh; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Công Khanh |