- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Phan Văn Đ 01(một) năm 01(một) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam đối với bị cáo (Ngày 14/6/2019) .
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊNTHÀNH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:102/2019/HSST Ngày 25 tháng 9 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Anh Ngọc.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng – Ông Nguyễn Sỹ Tố.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Hưng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: Ông Phan Lê Tời - Chức vụ kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số:103/2019/HSST, ngày 06 tháng 9 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:101/2019/QĐXXST-HS ngày 14/9/2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Văn Đ (Tên gọi: không), sinh ngày 18 tháng 7 năm 1994 tại xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHK thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm C, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: làm ruộng; Đảng, đoàn thể: không; Con ông: Phan Văn N, sinh năm 1965 và bà Trương Thị Q, sinh năm 1969, Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không: Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/06/2019 cho đến nay tại Trại tạm giam công an tỉnh Nghệ An.(Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 14/06/2019, Phan Văn Đ sinh ngày 18/07/1994, ở xóm C, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An đi bộ từ nhà lên cầu D thuộc xã V, huyện Y để hóng gió. Khi đi đến cầu D, Phạm Văn Đ gặp bạn là Hồ Bá T, sinh năm 1995, trú tại xóm Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Gặp nhau thì Hồ Bá T và Phan Văn Đ nói chuyện với nhau, trong lúc nói chuyện, Hồ Bá T hỏi “Mi có biết chỗ mô lấy được ma túy đá không, đi lấy một ít về, tau với mi cùng chơi”. Nghe Hồ Bá T nói vậy, Phan Văn Đ liền nói với Hồ Bá T “ừ, tau có biết chỗ lấy được đó”. Hồ Bá T lấy số tiền 1.200.000 đồng đưa cho Phan Văn Đ và nói “Mi cầm tiền đây đi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy đá, 150.000 đồng mua thẻ điện thoại, còn lại mua nước mà uống, khi mô mua được ma túy thì về khu vực giếng làng xóm choa tao đợi mi ở đó”. Phan Văn Đ cầm số tiền 1.200.000 đồng đi đến khu vực trước cổng chùa G, thuộc xã X, huyện Y, tỉnh Nghệ An để mua ma túy, vì trước đó có lần vô tình Phan Văn Đ nghe ai đó kể về việc trước cổng chùa G, xã X có một người đàn ông tên V ở xã X thường xuyên bán ma túy. Khi đến nơi Phan Văn Đ thấy một người đàn ông trung niên đang đứng một mình, Phan Văn Đ đi lại gần người đàn ông và hỏi “anh V à” thì người đàn ông trả lời “ừ, có chuyện chi đó”, Phan Văn Đ hỏi “Anh có ma túy không bán cho em 1.000.000 đồng tiền ma túy đá”, người đàn ông tên V trả lời “có”. Phan Văn Đ lấy 1.000.000 đồng đưa cho người đàn ông tên V, người đàn ông nhận tiền rồi đưa cho Đ 02 gói bọc bằng túi ni lông màu trắng, bên trong mỗi túi có chứa một ít hạt tinh thể dạng nén màu trắng. Sau khi mua được ma túy Phan Văn Đ cầm 02 gói ma túy vào lòng bàn tay trái đi về, đi đến đến khu vực chợ G, xã X, huyện Y thì Phan Văn Đ rẽ vào quán tạp hóa mua 03 thẻ điện thoại Viettel mệnh giá 50.000 đồng và mua 50.000 đồng tiền nước ngọt. Khi Phan Văn Đ đi đến cổng chào xóm Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An thì bị Công an huyện Yên Thành bắt giữ, thu giữ trong lòng bàn tay trái 02 gói bọc bằng ni lông màu trắng nghi là ma túy. Phan Văn Đ được đưa về cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành để tiến hành điều tra làm rõ. Sau khi bắt giữ đối tượng Phan Văn Đ, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành đã bóc mở niêm phong, xác định khối lượng vật chứng thu giữ, lấy mẫu trưng cầu giám định và niêm phong lại. Hội đồng xác định khối lượng túi ni lông thứ nhất khối lượng cả bao bì là 0,255 gam, sau khi loại bỏ bao bì khối lượng còn lại là 0,16 gam. Khối lượng túi ni lông thứ hai cả bì là 0,255 gam, sau khi loại bỏ bao bì khối lượng còn lại là 0,16 gam. Tổng khối lượng 02 gói thu giữ được của Phan Văn Đ là 0,32 gam. Lấy 0,15 gam đi giám định, khối lượng còn lại là 0,17 gam.
Tại bản giám định số: 917/KL.PC 09(MT) ngày 20/06/2019 của phòng PC 09 Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Hai mẫu các hạt tinh thể ký hiệu M1, M2 thu giữ của Phan Văn Đ gửi tới giám định đều là ma túy hợp (Methamphetamine).
Vật chứng vụ án: Số ma túy (Methamphetamine) thu giữ của Phan Văn Đ có khối lượng 0,32 gam, đã lấy 0,15 gam trưng cầu giám định (Mẫu không hoàn lại), còn lại 0,17 gam hiện nay đã được Cơ quan điều tra chuyển giao cho Chi cục thi hành án bảo quản lý chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số: 112/VKS-YT, ngày 03 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An truy tố Phan Văn Đ về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử :
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phan Văn Đ từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng : Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật sinh sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,17 gam ma túy (Methamphetamine) còn lại do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành đã chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An quản lý.
- Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 26/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ buộc tội: Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 14/6/2019 tại khu vực cổng chào của xóm Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An, lực lượng Công an huyện Yên Thành phát hiện bắt giữ đối tượng Phan Văn Đ, sinh ngày 18/7/1994 có hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm C, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An, thu giữ trong lòng bàn tay trái Phan Văn Đ 02 gói bọc bằng ni lông màu trắng nghi là ma túy tổng hợp, sau khi loại bỏ bao bì thì tổng hợp vật chứng nghi là ma túy có khối lượng là 0,32 gam. Cơ quan điều tra đã lấy mẫu trưng cầu giám định, kết luận là ma túy có tên gọi là (Methamphetamine). Tại cơ quan điều tra Phan Văn Đ khai trước lúc bị bắt thì Phan Văn Đ và bạn là Hồ Bá N gặp nhau tại cầu D, xã V, huyện Y, tại đó Hồ Bá T hỏi Phan Văn Đ có biết nơi ma túy đá bán không, nếu biết thì nhờ Đ đi mua về đêm đến xóm Đ, xã H, huyện Y để Hồ Bá T và Phan Văn Đ cùng sử dụng cung, thì Phan Văn Đ đồng ý. Hồ Bá T đưa cho Phan Văn Đ 1.200.000 đồng và dặn Phan Văn Đ là mua 1.000.000đ ma túy đá, mua cạc điện thoại Viettel 150.000đ, còn lại mua nước ngọt để uống. Phan Văn Đ cầm số tiền Hồ Bá T đưa, đi lên chùa G, thuộc xã X, huyện Y tìm gặp một người tên là V tại cổng chùa G, thuộc xã X, huyện Y mua của người đó 1.000.000 đồng ma túy được gói thành 02 gói, mua xong Đ đi về . Theo lơi dặn của Hô Bá T trên đường đi về Đ vào quán ven đường tại chợ G mua 3 thẻ điện thoại hết 150.000 đồng, còn lại 50.000 đồng mua nước ngọt. Khi Phan Văn Đ đi về đến cổng chào xóm Đ, xã H, huyện Y thì bị Lực lượng Công an huyện Yên Thành phát hiện bắt giữ người cùng tang vật.
Căn cứ vào hành vi do Phan Văn Đ đã thực hiện, khối lượng ma túy thu giữ, kết luận giám định cơ quan chuyên môn. Cơ quan điều tra, điều tra viên thấy rằng khối lượng ma túy thu giữ Phan Văn Đ với mục đích là mua về để sử dụng, đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại Điều 249 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do vậy cơ quan điều tra, điều tra viên đã tiến hành các hoạt động tố tụng, theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự, như quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với Phan Văn Đ, lấy lời khai, hỏi cung bị can, điều tra xác minh làm cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phan Văn Đ. Căn cứ kết quả điều tra và các chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố Phan Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.
Vô ¸n thuéc lo¹i ¸n rất nghiªm träng, hµnh vi tàng trữ trái phép chất ma túy do bị cáo Phan Văn Đ thực hiện lµ nguy hiÓm cho x· héi, thÓ hiÖn sù liÒu lÜnh, xem thường ph¸p luËt, g©y mÊt trËt tù trÞ an, an toàn x· héi. Chắc chắn bị hiểu được tác hại ma túy, nếu sử dụng lâu ngày, thường xuyên sẽ dẫn đến nghiện ngập, nghiện ma túy sẽ làm ảnh hưởng đến tinh thần và sức khỏe về sau, việc sử dụng ma túy sẽ làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây hậu quả khó lường trước. Do vậy cần xử lý đối với bị cáo với một hình phạt nghiêm minh để cải tạo giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung, việc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo đối với bị cáo là cần thiết.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Lẽ ra xử phạt bị cáo với mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù, nhưng xét thấy rằng, trong quá trình điều tra truy tố xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năm hối lỗi. Vì vậy cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào để thể hiện sự nhân đạo, chỉ xử phạt bị cáo với mức án 13 tháng tù cũng đủ nghiêm.
Quá trình điều tra Phan Văn Đ khai số tiền 1.000.000 đồng dùng mua ma túy là của Hồ Bá T đưa cho Phan Văn Đ để đi mua về sử dụng chung, nhưng quá trình điều tra, đối chất tại cơ quan điều tra Hồ Bá T không thừa nhận, vì vậy chưa có cơ sở xử lý Hồ Bá T. Ngoài ra Phan Văn Đ khai số ma túy 0,32 gam là do Phan Văn Đ mua của người có tên V nhưng không rõ quê quán, địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối tượng, nhưng không có kết quả, vì vậy không có cơ sở để điều tra xử lý đối với người có tên V như bị cáo Phan Văn Đ đã khai.
Vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ của Phan Văn Đ khối lượng ma túy 0,32 gam (Methamphetamine),đã lấy 0,15 gam làm mẫu trưng cầu giám định ( mẫu không hoàn lại), khối lượng còn lại là 0,17 gam (Methamphetamine) Cơ quan điều tra đã chuyển cho Chi cục thi hành án Yên Thành tỉnh Nghệ An. Xét đây là vật chứng nhà nước cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: Bị cáo Phan Văn Đ 01(một) năm 01(một) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam đối với bị cáo (Ngày 14/6/2019) .
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật sình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại có khối lượng 0,17 gam (Methamphetamine) do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/9/2019 và phiếu nhập kho số: NK016 ngày 06/9/2019.
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo Phan Văn Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND H. Yên Thành; - VKSND tỉnh Nghệ An; - THADS Yên Thành; - THA hình sự; - Bị cáo; - TAND tỉnh Nghệ An; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Anh Ngọc |