vanban.org

Bản án 102/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 22/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về vậ t chứ ng: Căn cứ điể m c khoản 1 Điề u 47 Bộ luậ t hì nh sự ; điể m a, c khoản 2 Điề u 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy, gồ m: 01 (Mộ t) phong bì bên trong có đự ng 3,61 gam Methamphetamine đã đượ c tái niêm phong trong mộ t phong bì . Trên mặ t bì có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc Duy Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2019/HS-ST
Ngày 22-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễ n Thá i Hà .

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễ n Thà nh Thá i.

Ông: Phạm Huy Bình,

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Thế Trung-Thư ký tòa án nhân dân thành phố Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Trị nh Ngọ c Thạ ch-Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại hộ i trườ ng số 1, trụ sở tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2019/TLST-HS ngày 5 tháng 11 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Phạm Ngọc Duy Th, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1994, tại thành phố L, tỉnh Lào Cai. ĐKHKTT: Tổ 8, phườ ng P, thành phố L , tỉnh Lào Cai ; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việ t Nam; con ông Phạm Quang V, sinh năm 1961 và bà Đinh Thị M, sinh năm 1962, trú tại tổ 8, phườ ng P, thành phố L, tỉnh Lào Cai; bị cáo có vợ là Hà Thị Th , sinh năm 1998. Trú tại tổ 8, phườ ng P, thành phố L , tỉnh Lào Cai ; tiền án: Không; tiền sự: Không. Hiệ n đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Ngườ i chứ ng kiế n: Bà Đoàn Thị H, sinh năm 1954. Vắ ng mặ t.

Đị a chỉ : Tổ 15, phườ ng B, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ i 18 giờ 00 phút, ngày 22 tháng 9 năm 2019, Phạm Ngọc Duy Th đi xe taxi từ nhà đế n nhà củ a bà Ngô Thị H , sinh năm 1960, trú tại thôn Đ , xã S , huyệ n B , tỉnh Lào Cai mua của H 01 gói nilon bên trong có 07 túi nilon đều chứ a các hạt tinh thể màu trắng với giá 2.300.000 đồ ng. Khoảng 21 giờ cùng ngày Nguyễ n Văn D gọi điện cho Th đến đó n D tại tổ 6, phường B, thành phố L. Th vẫn mang theo túi nilon chứa ma túy đá để trong túi quần đùi bên trái phía trước Th đang mặc điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Draem, không có biển kiểm soát đến đón D. Th chở D đến nhà nghỉ R thuộc tổ 15, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Th thuê 02 phòng nghỉ số 401, 402 cả hai lên phòng 401sử dụng ma túy của Nguyễn Văn D mang đến, sau khi sử dụng xong Th đi về phòng số 402 ngủ. Đế n 01 giờ 30 phút ngày 23 tháng 9 năm 2019, khi Th đang ngủ trong phòng số 402 thì tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm Công an tỉnh Lào Cai kiểm tra, trước sự chứng kiến của bà Đoàn Thị H là quản lý nhà nghỉ . Th tự khai nhận đang cất giấu ma túy trên người và tự lấy từ trong túi quần đùi bên trái phía trước đang mặc ra 01 túi nilon bên trong có chứa 07 (Bẩy) túi nilon, bên trong mỗi túi nilon đều chứa các hạt tinh thể màu trắng, Th khai nhận đó là số ma túy đá Th mua mục đích để sử dụng cho bản thân giao nộp tổ công tác. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.

Tại bản kết luận giám định số 212/GĐMT ngày 25 tháng 9 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 4,04 gam các hạt tinh thể rắ n, màu trắng thu giữ của Phạm Ngọc Duy Th gử i giá m đị nh là loạ i chấ t ma tú y Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 110/CT-VKS ngà y 4 tháng 11 năm 2019 của Viện kiể m sá t nhân dân t hành phố Lào Cai, truy tố đố i vớ i Phạm Ngọc Duy Th về tộ i “Tà ng trữ trá i phé p chấ t ma tú y ’ theo quy đị nh tạ i điể m c khoản 1 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự .

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Duy Th phạm tội “Tà ng trữ trá i phép chất ma túy”. Áp dụng điể m c khoản 1 Điều 249; điểm s khoả n 1 và khoản 2 Điề u 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Duy Th mứ c á n từ 3 năm 6 tháng đến 4 năm 6 tháng tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điề u 47 Bộ luậ t hì nh sự ; điể m a, c khoản 2 Điề u 106 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự . Tịch thu tiêu hủy 3,61 gam Methamphetamine đã đượ c tái niêm phong trong mộ t phong bì . Tiế p tụ c tạ m giữ củ a bị cá o 01 chiế c điệ n thoạ i di độ ng nhã n hiệ u Iphone có số Imei: 353309078969811, bên trong có sim số 0988898146 để đảm bảo thi hành án.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Phạm Ngọc Duy Th tại phiên tòa phù hợp với lời khai củ a bị cáo tại cơ quan điề u tra, biên bả n bắ t ngườ i phạ m tộ i quả tang và thu giữ vậ t chứ ng, lờ i khai ngườ i là m chứ ng, bản kết luận giám đị nh số 212/GĐMT, ngày 25 tháng 9 năm 2019 của phòng kỹ thuật hình sự C ông an tỉ nh Lào Cai, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa . Như vậ y, có căn cứ xá c đị nh ngày 23 tháng 9 năm 2019, bị cáo Phạm Ngọc Duy Th đã thự c hiệ n hà nh vi tàng trữ 4,04 gam Methamphetamine vớ i mục đích sử dụng . Hành vi củ a bị cá o đã xâm phạ m đế n chí nh sá ch độ c quyề n quả n lý cá c chấ t ma tú y của Nhà nước . Hộ i đồ ng xé t xử kế t luậ n bị cá o Phạm Ngọc Duy Th phạm tội “Tà ng trữ trá i phé p chấ t ma tú y” theo quy đị nh tạ i điể m c khoản 1 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự .

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm NgọcDuy Th không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử nhậ n trong quá trì nh điề u tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, có mẹ đẻ bà Đinh Thị M đượ c tặ ng huy chương hạ ng 3 năm 2011 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y bị cáo nhậ n thứ c hiể u biế t phá p luậ t Nhà nước cấm cá nhân, tổ chứ c tà ng trữ , mua bá n, sử dụ ng hoặ c chiế m đoạ t chấ t ma tú y , nhậ n thứ c đượ c tá c hạ i củ a chấ t ma tú y nhưng bị cá o vẫ n tà ng trữ để sử dụng, điề u đó cho thấ y bị cáo không ý thức tôn trọng pháp luật , tu dưỡ ng rè n luyệ n bả n thân . Xét thấy cầ n xé t xử vớ i mứ c á n phù hợp tương xứ ng vớ i tính chất mức đ ộ hành vi phạm tộ i của bị cáo để giáo dục, cải tạ o bị cá o trở thà nh công dân tố t cho gia đì nh và xã hộ i , đồ ng thờ i xem xét bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vậ t chứ ng : Cơ quan điề u tra đã thu giữ củ a bị cá o 4,04 gam Methamphetamine đã trí ch mẫ u gử i giá m đị nh 0,43 gam Methamphetamine. Số còn lại là 3,61 gam Methamphetamine, xét thấy cần tịch thu tiêu hủy theo quy đị nh phá p luậ t. Đối với 01 chiế c điệ n thoạ i di độ ng nhã n hiệ u Iphone có số Imei: 353309078969811, bên trong gắ n sim số 09888898146 là tài sản hợp pháp của bị cáo, lẽ ra trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cầ n tiế p tụ c tạ m giữ để đả m bả o thi hà nh án theo quy đị nh phá p luậ t . Đối với 01(Mộ t) chiế c xe mô tô bị cá o khai mượn của người bạn tên là C (Không biế t họ , đị a chỉ cụ thể ), quá trình điều tra không xác định được chủ sở hữu nên cơ quan điều tra đã tách ra để xử lý sau.

Về nguồ n gố c ma tú y thu giữ củ a bị cá o Phạm Ngọc Duy Th: Ngày 22 tháng 9 năm 2019, bị cáo mua của Ngô Thị H , trú tại thôn Đ , xã S, huyệ n B, tỉnh Lào Cai , quá trình điều tra H không thừ a nhậ n . Cơ quan cả nh sá t điề u tra Công an tỉ nh Là o Cai đã khở i tố vụ á n , khở i tố đố i vớ i Ngô Thị H và Nguyễn Văn D trong vụ án khác nên không đề cập trong vụ án này .

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu số tiề n là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Duy Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chấ t ma tú y”, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Duy Th 3 (Ba) năm 9 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành á n tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23 tháng 9 năm 2019.

Về vậ t chứ ng: Căn cứ điể m c khoản 1 Điề u 47 Bộ luậ t hì nh sự ; điể m a, c khoản 2 Điề u 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy, gồ m:

- 01 (Mộ t) phong bì bên trong có đự ng 3,61 gam Methamphetamine đã đượ c tái niêm phong trong mộ t phong bì . Trên mặ t bì có ghi “Vậ t chứ ng cò n lạ i sau trí ch mẫ u giá m đị nh thu trong vụ Phạm Ngọc Duy Th có hành vi phạm tội về ma tú y. Phát hiện, thu giữ ngà y 23 tháng 9 năm 2019 tại tổ 15, phườ ng Bắ c Lệ nh, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.

Tiế p tụ c tạ m giữ củ a bị cá o Phạm Ngọc Duy Th 01 chiế c điệ n thoạ i di độ ng nhã n hiệ u Iphone số IMEI: 353309078969811, bên trong có nắ p sim số 0988898146 để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Ngọc Duy Th phải chịu số tiền là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ