vanban.org

Bản án 102/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Nguyên Văn Ph cho

ông Nguyễn Văn Ph được ly hôn đối với bà Đoàn Thị H. Về con chung: Đã trưởng thành, Tòa án không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn Phúc Đoàn Thị Hương"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Nguyên Văn Ph cho
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 26/9/2019
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Trần Xuân Viện.

2.Ông Dương Văn Xây

Thƣ ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hoài- Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên

tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Ngọc- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2019 tại hội trường Toà án nhân dân thành phố Thái

Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án H«n nh©n gia ®×nh thụ lý số 502 /2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2019/QĐXX-ST ngày 12 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyªn ®¬n: Ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1974

Địa chỉ: Tổ 25, phường CH, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại

phiên tòa)

Bị đơn: Bà Đoàn Thị H, sinh năm 1975

ĐKHK: Tổ 25, phường CH, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.(Vắng mặt

lần 2 tại phiên tòa).

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản về việc không tiến hành hòa

giải được và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ph trình bày: Ông và bà Đoàn Thị H, kết hôn vào năm 1994, đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc gì đồng thời được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa pH. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại gia đình ông ở xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ. Năm 2007 vợ chồng cùng đi làm ăn xa, đến năm 2013 vợ chồng về Thái Nguyên làm ăn và sinh sống, từ đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, từ tình cảm vợ chồng cho đến công việc làm ăn nên vợ chồng mất lòng tin và không còn sự tôn trọng đối với nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã sô sát. Hiện tại, vợ chồng đã sống ly thân không ai còn quan tâm đến ai. Nay ông xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị được ly hôn với bà H để giải phóng cho nhau.

Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu

Nguyễn Thị H, sinh năm 1995 hiện đã có gia đình riêng và cháu Nguyễn Văn H1, sinh ngày 22/02/2001 các con đều đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Ông Ph xác định không

có tài sản chung,nợ chung và các khoản cho vay chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Ông Ph nhận nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Phía bị đơn bà Nguyễn Thị H, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà H

đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt. Tại biên bản làm việc ngày 09/7/2019, có mặt của tổ trưởng dân phố, bà H xác định đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án, biết được quan điểm của ông Ph trong vụ án Hôn nhân và gia đình này, cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn từ nhiều năm nay, tuy nhiên bà là người theo đạo thiên chúa nên bà không nhât trí ly hôn với ông Ph nên sẽ không ký nhận bất kỳ văn bản nào của Tòa án đồng thời sẽ không viết bản tự khai hay đến Tòa để tham gia tố tụng khi Tòa án triệu tập và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, sau khi trình bày bà H không ký biên bản làm việc, sự việc này có chứng kiến của tổ trưởng tổ dân phố.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã làm các thủ tục tống đạt hợp lệ cho bà H,

tuy nhiên bà H vẫn vắng mặt, vì vậy không tiến hành hòa giải được, nên vụ án được đưa ra xét xử công khai ngày hôm nay.

Kết thúc phần hỏi, vị đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái

Nguyên phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét

xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền và quan hệ tranh chấp; Thực hiện các hoạt động tố tụng và thời hạn mở phiên tòa theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa, Hội đồng xét

xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa xét xử sơ thẩm.

-Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn

đã chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự

- Về nội dung: Đề nghị căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật

tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 51, Điều 56 ; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015 quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn Ph, cho ông Ph được ly hôn với bà Đoàn Thị H. Về con chung hiện nay các con đã trương thành nên không giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay không có, không yêu cầu nên không xem xét. Ông Nguyễn Văn Ph chịu án phí ly hôn sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n ® îc thÈm tra t¹i phiªn

toµ vµ kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình quy ®Þnh tại

Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Đoàn Thị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ

quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập phiên tòa lần hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung: Ông Nguyễn Văn Ph và bà Đoàn Thị H kết hôn với nhau

vào năm 1994 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hoàng Nông huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc gì nên được pháp luật thừa nhận là cuộc hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân ông Ph yêu cầu giải quyết ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan

điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã nên không có tiếng nói chung, vì lý do đó vợ chồng đã sống ly thân khoảng 02 năm nay, không ai còn quan tâm đến ai. Quá trình giải quyết vụ án bà H không hợp tác, không đến Tòa để giải quyết vụ án. Tuy nhiên tại biên bản làm việc ngày 09/7/2019 bà H xác định vợ chồng có mâu thuẫn từ lâu tuy nhiên bà theo đạo thiên chúa nên chưa nhất trí ly hôn đồng thời sẽ không ký nhận hay tham gia bất kỳ buổi tiến hành tố tụng tại Tòa án. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn giữa ông Ph và bà H đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và trên thực tế cuộc hôn nhân này đã không còn tồn tại từ khi hai vợ chồng sống ly thân và không ai còn quan tâm đến ai. Nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Ph là phù hợp với thực tế và quy định tại các Điều 51, 56 luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Điều 51, 56 Luât Hôn nhân và gia đình quy định:

Điều 51: Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1.Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Điều 56: Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành

thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu

Nguyễn Thị H, sinh năm 1995 hiện đã trưởng thành và có gia đình riêng. Còn đối với cháu Nguyễn Văn H1, sinh ngày 22/02/2001. Tại thời điểm Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, cháu H1 đã trên 18 tuổi, vì vậy Tòa án cũng không giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Ông Ph xác định không

có tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về phía bà H, tuy không có lời khai tại Tòa án nhưng khi nhận được thông báo thụ lý vụ án và biết được yêu cầu giải quyết của ông Ph trong vụ án này bà H không có ý kiến gì về phần tài sản, do vậy đối với việc giải quyết tài sản chung vợ chồng, nợ chung và các khoản cho vay, Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này nếu bà H có yêu cầu thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

Về án phí: Ông Ph phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật

định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; điểm b, khoản 2

Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Nghị quyết 326/ 2016/ UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Nguyên Văn Ph cho

ông Nguyễn Văn Ph được ly hôn đối với bà Đoàn Thị H.

2. Về con chung: Đã trưởng thành, Tòa án không giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Không có, không

yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Án phí: Nguyễn Văn Ph phải nộp 300.000 đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí

ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001846 ngày 19/6/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ