vanban.org

Bản án 102/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 08/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Lường Hồng C, Nguyễn Văn C, Bạc Cầm N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lường Hồng C 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 23/01/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Hồng C và đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lường Hồng C, Nguyễn Văn C, Bạc Cầm N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2018/HSST
Ngày 08/5/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đình Bản và ông Tường Duy Bình.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Nga, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sa Văn Quỳnh, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 101/2018/HSST ngày 20 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lường Hồng C, sinh ngày 18/8/1999 tại huyện V, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản C, xã M, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn Q và bà Lường Thị T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt ngày 22/01/2018, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/01/2018 đến nay. Có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh ngày 15/01/1995 tại huyện H, tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G và bà Lê Thị S; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/01/2018 đến nay. Có mặt.

3. Họ và tên: Bạc Cầm N, sinh ngày 01/6/1995, tại huyện Q, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện Q, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạc Cầm T và bà Lò Thị T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/01/2018 đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Hà Việt H, sinh ngày 10/10/2002. Nơi cư trú: Bản C, xã M, huyện V, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Hà Việt H: Ông Hà Văn O, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Bản C, xã M, huyện V, tỉnh Sơn La. Là bố đẻ của Hà Việt H. Có mặt.

2. Anh Nguyễn Hồng S, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Tiểu khu 8, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lường Hồng C, Nguyễn Văn C, Bạc Cầm N đều là người làm thuê cho anh Nguyễn Hồng S. Hà Việt H là học sinh lớp 10 Trường THPT M.

Khoảng 13 giờ ngày 22/01/2018, C bảo C hỏi N có tiền không để C đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng. C đồng ý, nhắn tin điện thoại trao đổi thống nhất N sẽ đưa cho C 400.000 đồng để đưa cho C đi mua ma túy về cùng sử dụng. Khoảng 19 giờ cùng ngày, N đi bộ đến phòng trọ của C và C ở tiểu khu 3, thị trấn M, huyện M, đưa cho C 400.000 đồng rồi đi về. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Hà Việt H đi bộ đến phòng trọ của C và C ăn cơm. Sau đó, C rủ H cùng đi mua ma túy về sử dụng chung, H đồng ý. C đưa cho H 400.000 đồng để đi mua ma túy. H nhận tiền cất giấu vào túi quần, điều khiển xe máy biển kiểm soát xxxx chở C đi đến khu vực đường dân sinh bản C, xã Đ, huyện M thì gặp một phụ nữ người Mông, khoảng 50 tuổi. H hỏi mua được của người phụ nữ đó 06 viên Methamphetamine với giá 400.000 đồng. C nhặt mảnh nilon màu xanh gói lại thành 01 gói, cầm ở tay phải. H điều khiển xe máy chở C đi về phòng trọ. Khi đi đến khu vực bản T, xã Đ, huyện M thì bị tổ công tác Công an huyện Mộc Châu kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng gồm: 06 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY, nghi là Methamphetamine. Tạm giữ của Lường Hồng C: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu STARFA, biển kiểm soát xxxx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4S. Tạm giữ của Hà Việt H: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell Nova i6.

Ngày 23/01/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Phòng PC54 Công an tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, kiểm đếm số lượng, xác định khối lượng chất ma túy thu giữ của Lường Hồng C và Hà Việt H, được tổng số 06 viên có tổng khối lượng 0,57 gam; Lấy 04 viên có khối lượng 0,39 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu C. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã trưng cầu giám định mẫu ký hiệu C có phải ma túy không, loại ma túy, khối lượng của mẫu giám định. Tại Kết luận giám định số 284 ngày 28/01/2018 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu C là chất ma túy; Loại chất Methamphetamine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,39 gam. Tổng khối lượng của chất ma túy thu giữ được là 0,57 gam loại chất Methamphetamine.

Mở rộng điều tra, ngày 23/01/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn C và Bạc Cầm N. Tạm giữ của Nguyễn Văn C: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F1S. Tạm giữ của Bạc Cầm N: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S.

Đối với Hà Việt H là người đã nhận số tiền 400.000 đồng từ Nguyễn Văn C, sử dụng xe máy biển kiểm soát xxxx chở Lường Hồng C đi mua ma túy và là người trực tiếp thực hiện hành vi mua 06 viên Methamphetamine tổng khối lượng 0,57 gam để về cùng với các bị cáo sử dụng chung. Hành vi của H có dấu hiệu đồng phạm với Lường Hồng C và Nguyễn Văn C về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (thuộc loại tội phạm nghiêm trọng theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự). Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, xác định Hà Việt H sinh ngày 10/10/2002, tính đến ngày thực hiện hành vi vi phạm ngày 22/01/2018, Hà Việt H 15 tuổi 03 tháng 12 ngày. Ngày 23/01/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã quyết định trả tự do cho Hà Việt H, ngày 02/4/2018 đã xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với Hà Việt H và trả cho Hà Việt H chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell Nova i6. Tại phiên tòa, ông Hà Văn O là người đại diện hợp pháp của Hà Việt H không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Đối với người phụ nữ Mông đã bán ma túy cho Hà Việt H ngày 22/01/2018, không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra, xử lý.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu STARFA biển kiểm soát xxxx, được xác định là tài sản của anh Nguyễn Hồng S, anh Sơn không biết việc H và C dùng xe đi mua ma túy. Ngày 02/4/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã trả chiếc xe cho anh S.

Tại bản cáo trạng số 55/CT-VKSMC ngày 20/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đã truy tố Lường Hồng C, Nguyễn Văn C về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; truy tố Bạc Cầm N về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lường Hồng C, Nguyễn Văn C, Bạc Cầm N về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý và áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt đối với các bị cáo như sau:

1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lường Hồng C từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù . Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bạc Cầm N từ 21 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

4. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã trả 01 điện thoại di động cho Hà Việt H và trả 01 xe máy nhãn hiệu STARFA, biển kiểm soát xxxx cho anh Nguyễn Hồng S.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu APPLE-IPHONE 4S thu giữ của Lường Hồng C; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO F1S thu giữ của Nguyễn Văn C; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu APPLE-IPHONE 5S thu giữ của Bạc Cầm N.

Tịch thu tiêu hủy:

- 03 thẻ sim (kèm theo bên trong 03 điện thoại thu giữ, niêm phong của các bị cáo).

- Một phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng thu giữ vụ: Lường Hồng C và Hà Việt H. Bắt ngày 22/01/2018 (0,18 gam các viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp cùng vỏ gói niêm phong ban đầu).

- Một phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Bạc Cầm N, ngày 23/01/2018; KQ: Dương tính.

- Một phong bì niêm phong bên ngoài ghi 01 (một) que Test thử ma túy của Nguyễn Văn C, ngày 23/01/2018; KQ: Dương tính.

- Một phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Lường Hồng C, ngày 23/01/2018; KQ: Dương tính.

5. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Các bị cáo đều có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của các bị cáo:

Tại phiên toà, các bị cáo giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Các bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Các bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, đúng với sự việc các bị cáo đã thực hiện. Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với nhau và với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, các Biên bản kiểm tra nội dung thông tin lưu trữ trong điện thoại di động và niêm phong; phù hợp với các vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy, có đủ căn cứ kết luận: Ngày 22/01/2018, Lường Hồng C, Bạc Cầm N và Nguyễn Văn C bàn bạc thống nhất mua ma túy để cùng sử dụng. Bạc Cầm N đưa cho Nguyễn Văn C số tiền 400.000 đồng. Nguyễn Văn C đưa lại cho Hà Việt H (sinh ngày 10/10/2002) số tiền 400.000 đồng. Sau đó Hà Việt H đã chở Lường Hồng C cùng đi mua ma túy. H là người trực tiếp mua và C là người trực tiếp cất giữ 06 viên Methamphetamine có tổng khối lượng 0,57 gam về để Ngoan, Chiến, Hoàng, C cùng sử dụng.

Hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 17 và Điều 249 Bộ luật Hình sự. Trong đó, Lường Hồng C và Nguyễn Văn C đều có hành vi sử dụng Hà Việt H (là người dưới 16 tuổi) nhận tiền và đi mua ma túy, là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều khoản quy định phạt tù từ 05 năm đến 10 năm, thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng. Đối với Bạc Cầm N, bị cáo không được biết việc sau đó H tham gia đi mua ma túy, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều khoản quy định phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Về nhân thân, các bị cáo phạm tội lần đầu nhưng đều là đối tượng sử dụng chất ma túy. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi vi phạm pháp luật của mình nhưng vẫn cùng nhau thực hiện. Xét cần xử phạt nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tính chất và mức độ tham gia của các bị cáo trong đồng phạm:

Lường Hồng C là người khởi xướng việc mua ma túy sử dụng chung, cùng H đi mua ma túy, trực tiếp cất giữ ma túy đem về để cả 04 người cùng sử dụng chung. Nguyễn Văn C là người tiếp nhận ý chí đồng phạm từ Lường Hồng C, thực hiện việc liên lạc với N để có số tiền 400.000 đồng mua ma túy sử dụng chung, là người trực tiếp nhận tiền từ N và sau đó giao lại cho H để mua ma túy. Bạc Cầm N là người tiếp nhận ý chí đồng phạm từ Nguyễn Văn C, đưa cho Nguyễn Văn C số tiền 400.000 đồng để mua ma túy về sử dụng chung. Xét cần áp dụng Điều 58 Bộ luật Hình sự, quyết định hình phạt phù hợp với tính chất và mức độ tham gia của từng bị cáo trong đồng phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với Lường Hồng C và Nguyễn Văn C còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Được xem xét về mức độ hợp tác để giảm nhẹ hình phạt đối với từng bị cáo.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung (Phạt tiền): Quá trình điều tra và xét hỏi công khai tại phiên tòa thấy các bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với các bị cáo.

Đối với Hà Việt H là người có hành vi cùng thống nhất với bị cáo Chiến, C về việc đi mua ma túy sử dụng chung; là người đã trực tiếp mua 06 viên Methamphetamine có tổng khối lượng 0,57 gam để C cất giữ. Do Hà Việt H chưa đủ 16 tuổi, xét thấy việc Công an huyện Mộc Châu đã xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với Hà Việt H là phù hợp, đúng quy định.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu STARFA, biển kiểm soát xxxx thu giữ khi bắt quả tang Lường Hồng C và Hà Việt H. Quá trình điều tra đã xác định là tài sản của anh Nguyễn Hồng S, anh S không biết việc các bị cáo sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội. Do vậy, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu trả chiếc xe cho anh Sơn là phù hợp, cần chấp nhận.

Đối với chiếc điện thoại thu giữ của Hà Việt H, được xác định là tài sản của Hà Việt H, không sử dụng vào việc mua ma túy hay trao đổi với các bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã trả chiếc điện thoại cho Hà Việt H là phù hợp, cần chấp nhận.

Đối với 03 chiếc điện thoại di động đã niêm phong, thu giữ của Lường Hồng C, Nguyễn Văn C, Bạc Cầm N. Xét đều là tài sản của các bị cáo, đã sử dụng vào việc liên lạc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Đối với các vật chứng gồm:

- 03 thẻ sim (kèm theo bên trong 03 điện thoại thu giữ, niêm phong của các bị cáo).

- Một phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng thu giữ vụ: Lường Hồng C và Hà Việt H. Bắt ngày 22/01/2018 (0,18 gam các viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp cùng vỏ gói niêm phong ban đầu).

- Một phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Bạc Cầm N, ngày 23/01/2018; KQ: Dương tính.

- Một phong bì niêm phong bên ngoài ghi 01 (một) que Test thử ma túy của Nguyễn Văn C, ngày 23/01/2018; KQ: Dương tính.

- Một phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Lường Hồng C, ngày 23/01/2018; KQ: Dương tính.

Xét là chất ma túy, vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu huỷ.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét thấy thời hạn tạm giam các bị cáo Lường Hồng C, Nguyễn Văn C còn lại trên 45 ngày, Hội đồng xét xử không ra Quyết định tạm giam. Đối với Bạc Cầm N, thời hạn tạm giam còn lại dưới 45 ngày, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam 45 ngày để đảm bảo thi hành án hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Lường Hồng C, Nguyễn Văn C, Bạc Cầm N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lường Hồng C 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 23/01/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 23/01/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Bạc Cầm N 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 23/01/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

4. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã trả 01 điện thoại di động cho Hà Việt H và trả 01 xe máy nhãn hiệu STARFA, biển kiểm soát xxxx cho anh Nguyễn Hồng S.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu APPLE-IPHONE 4S thu giữ của Lường Hồng C; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO F1S thu giữ của Nguyễn Văn C; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu APPLE-IPHONE 5S thu giữ của Bạc Cầm N.

Tịch thu tiêu hủy:

- 03 thẻ sim (kèm theo bên trong 03 điện thoại thu giữ, niêm phong của các bị cáo).

- Một phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng thu giữ vụ: Lường Hồng C và Hà Việt H. Bắt ngày 22/01/2018 (0,18 gam các viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp cùng vỏ gói niêm phong ban đầu).

- Một phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Bạc Cầm N, ngày 23/01/2018; KQ: Dương tính.

- Một phong bì niêm phong bên ngoài ghi 01 (một) que Test thử ma túy của Nguyễn Văn C, ngày 23/01/2018; KQ: Dương tính.

- Một phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Lường Hồng C, ngày 23/01/2018; KQ: Dương tính.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Lường Hồng C, Nguyễn Văn C, Bạc Cầm N phải chịu mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ