vanban.org

Bản án 102/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 16/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo NGUYỄN THỊ N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: NGUYỄN THỊ N 18 (mƣời tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 25/8/2018. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN THỊ N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo NGUYỄN THỊ N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2018/HSST
Ngày: 16/11/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------------------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ-TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Hà Đồng Tịnh

+ Ông Nguyễn Kim Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Tín - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Sơn Trà.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lƣu Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, Tp. Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2018/HSST ngày 25 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2018/QĐXX-HS ngày 01/11/2018 đối với bị cáo:

- Họ và tên: NGUYỄN THỊ N

Giới tính: Nữ

- Tên gọi khác: Không

- Sinh ngày: 05 tháng 5 năm 1987 tại TP Đà Nẵng

- Nơi ĐKHKTT: Tổ 52, phường X, quận T, TP Đà Nẵng;

- Trình độ học vấn: 01/12;

- Nghề nghiệp: Buôn bán ve chai;

- Quốc tịch: Việt Nam.

- Dân tộc: Kinh;

-Tôn giáo: Không.

- Tiền án, tiền sự: Chưa

- Nhân thân: Ngày 25/4/2008, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Con ông: Nguyễn Văn A (Chết) và con bà: Võ Thị L - Trú tại: Không rõ. Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con út.

- Sống chung như vợ chồng với ông Nguyễn Hữu L (SN 1986)- Trú tại: Điện Ngọc, Điện Bàn, Quảng Nam; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất 2010.

- Bị cáo bị bắt ngày 25/8/2018, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Hòa Sơn, Công an thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời làm chứng: Ông Nguyễn Thanh D- Sinh năm: 1985- Địa chỉ: Tổ 39 A phường P, quận S, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị T- Sinh năm: 1983- Địa chỉ: Thôn 2, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 6 giờ 30 phút ngày 25/8/2018, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng phối hợp với Công an phường An Hải Bắc, kiểm tra nhà nghỉ Bóng Biển, số 161 đường Nguyễn Công Trứ, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng thì phát hiện, bắt quả tang tại hành lang trước phòng 204, NGUYỄN THỊ N đang cất giấu trong túi quần sau bên phải của N đang mặc 02 gói ny lông kích thước (1x2)cm, 01 gói ny lông kích thước (1x1,5)cm, 01 gói ny lông kích thước (2x2)cm, 01 gói ny lông kích thước (2x3)cm. Tiếp tục kiểm tra tại phòng 204, phát hiện có 02 đối tượng Nguyễn Thị T(SN: 1983, HKTT: xã Bình Giang, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) và Nguyễn Thanh D(SN:1985, HKTT: Tổ 39A, phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng) là bạn của N đang nghỉ nhờ tại phòng 204 của N thuê nhưng không biết N tàng trữ trái phép chất ma túy trong người.

Tang vật thu giữ:

- 02 (Hai) gói nylông kích thước (01x02)cm bên trong có chứa chất rắn dạng

tinh thể màu trắng;

- 01 (Một) gói nylông kích thước (01x1,5)cm bên trong có chứa chất rắn dạng

tinh thể màu trắng;

- 01 (Một) gói nylông kích thước (02x02)cm bên trong có chứa chất rắn dạng

tinh thể màu trắng;

- 01(Một) gói nylông kích thước (02x03)cm bên trong có chứa chất rắn dạng

tinh thể màu trắng;

(Tất cả các gói ny lông được niêm phong trong bì thư, kí hiệu N)

- 01 (Một) bình nước bằng nhựa có cắm ống hút là dụng cụ để sử dụng ma túy

đá;

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen số Imei:

354492092854299 có gắn sim thuê bao số: 01202319272;

Căn cứ Kết luận giám định số 171/GĐ-MT ngày 31 tháng 8 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Đà Nẵng: Mẫu tinh thể trong bì niêm phong ký hiệu N gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; Khối lượng mẫu tinh thể N: 0,306 gam. (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, số thứ tự 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ).

Qua điều tra xác định, NGUYỄN THỊ N là đối tượng không có công việc ổn định, bản thân lại nghiện ma túy. Từ tháng 5 năm 2018, N thuê trọ tại phòng 204, nhà nghỉ Bóng Biển để tạm trú và giúp việc dọn vệ sinh cho nhà nghỉ. Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 24/08/2018, N đang quét dọn tại khu vực hành lang, tầng 2, nhà nghỉ Bóng Biển thì có nhặt được 05 gói ni lông bên trong đều chứa ma túy đá, sau khi phát hiện bên trong chứa ma túy N liền cất giấu vào túi quần để sau này sử dụng, chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.

* Lời khai người làm chứng- ông Nguyễn Thanh D và bà Nguyễn Thị T đều khai nhận như sau: Vào khoảng 06 giờ 15 phút ngày 25/8/2018 ông Dvà bà Tđang ở dãy phòng trọ nhà nghỉ Bóng Biển thì có thấy lực lượng Công an kiểm tra hành chính phòng 204 là nơi ở của bà N. Qua kiểm tra, ông D và bà T thấy lực lượng Công an thu giữ trong túi quần sau bên phải của bà N có 05 gói ny lông chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và bà N khai nhận tại chỗ là ma túy đá. Cơ quan Công an đã tiến hành tạm giữ, niêm phong và ông Dương, bà Tđã ký xác nhận. Cả ông Dvà bà Tđều khai nhận trước đó vào ngày 24/8/2018 thì mỗi người đều có sử dụng ma túy, sau đó gặp nhau tại quán internet vào rạng sáng ngày 25/8/2018 và cùng nhau nghỉ nhờ tại phòng 204 của N thuê và đã chứng kiến toàn bộ sự việc nêu trên.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà giữ nguyên quan điểm truy tố theo Bản cáo trạng số 96/CT-VKS ngày 24/10/2018 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố NGUYỄN THỊ N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đồng thời đề nghị:

- Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo NGUYỄN THỊ N từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt 25/8/2018.

Do không xác minh được tài sản riêng của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bì niêm phong số 171/GĐ-MT ngày 31/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng bên trong có chứa 0,118 gam ma túy loại Methamphetamine là trọng lượng còn lại sau khi giám định và 01 (Một) bình nước có gắm ống hút là dụng cụ sử dụng ma túy.

Đối với 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số IMEL 354492092854299 bị cáo khai nhận là mượn của bạn ngoài xã hội, xét thấy không liên quan đến vụ án nên đề nghị trả lại cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Sơn Trà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo NGUYỄN THỊ N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể: Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 25/8/2018, tại phòng 204 nhà nghỉ Bóng Biển thuộc phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng, lực lượng điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Sơn Trà phát hiện bắt quả tang NGUYỄN THỊ N đang có hành vi cất giấu trong túi quần sau, bên phải của N đang mặc 0,306 gam ma tuý, loại Methamphetamine mà N khai nhặt được tại lan can tầng 2, nhà nghỉ Bóng Biển vào khoảng 17 giờ 00 ngày 24/8/2018 nhưng do ham muốn cá nhân nên N cất giấu để sử dụng cho nhu cầu nghiện của bản thân.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo thấy phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cở sở xác định hành vi của bị cáo NGUYỄN THỊ N đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như bản cáo trạng số 96/CT-VKS ngày 24/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thì thấy: Ma túy tổng hợp Methamphetamine là loại độc chất, có khả năng gây nghiện mạnh, có hại cho sức khoẻ và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội do đó bị Nhà nước cấm tự do tàng trữ, mua bán, vận chuyển hoặc chiếm đoạt. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hại lớn cho xã hội, là hành vi cố ý và thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do đó, cần phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc mới tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2008 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xử 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Đây cũng là tình tiết cần phải xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong khi lượng hình.

Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Do không xác minh được tài sản riêng của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng: Xác định số ma túy còn lại sau khi giám định là vật cấm lưu hành và dụng cụ phục vụ cho việc sử dụng trái phép chất ma túy không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bì niêm phong số 171/GĐ-MT ngày 31/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng bên trong có chứa 0,118 gam ma túy loại Methamphetamine là trọng lượng còn lại sau khi giám định và 01 (Một) bình nước có gắm ống hút là dụng cụ sử dụng ma túy.

- Đối với 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số IMEL 354492092854299 bị cáo khai nhận là mượn của bạn ngoài xã hội, xét thấy không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

(Toàn bộ số vật chứng này hiện nay do Chi cục Thi hành án quận Sơn Trà , thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 2510/2018).

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đá của Nguyễn Thanh DCông an quận Sơn Trà đã chuyển hồ sơ cho Công an phường An Hải Bắc để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo diện không có nơi cư trú ổn định là có cơ sở.

Đối với đối tượng đã vứt 05 gói nylong chứa ma túy đá tại hành lang nhà nghỉ Bóng Biển, trong quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà tách ra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là phù hợp.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của NGUYỄN THỊ N, Nguyễn Thị TCông an quận Sơn Trà đã ra Quyết định xử lý hành chính là có cơ sở.

Từ những nhận định trên cho thấy đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà tại phiên tòa về tội danh và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật và phù hợp với quan điểm xử lý vụ án của Hội đồng xét xử.

Án phí HSST: Bị cáo NGUYỄN THỊ N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo NGUYỄN THỊ N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: NGUYỄN THỊ N 18 (mƣời tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 25/8/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bì niêm phong số 171/GĐ-MT ngày 31/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng bên trong có chứa 0,118 gam ma túy loại Methamphetamine là trọng lượng còn lại sau khi giám định và 01 (một) bình nước có gắm ống hút là dụng cụ sử dụng ma túy.

- Trả cho bị cáo 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số IMEL 354492092854299.

(Các vật chứng, tài sản trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/10/2018).

3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo NGUYỄN THỊ N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. :

Cỡ chữ