- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đình D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Tr n Đình D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN ND HUYỆN THÁI THỤY CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2018/HSST Ngày 13/11/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
T
N NH N N H N TH TH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ng Lưu Toàn Nghĩa.
Các H i thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy, ông Hoàng Văn Tuấn.
Thư ký phiên tòa: ng Phạm Tiến Thành - Thư ký Toà án ND huyện Thái Thụy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phi n tòa:
Bà L Thị Thảo - Kiểm sát vi n.
Trong ngày 13 tháng 11 năm 2 18, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ th m công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2018/TLST-HS ngày 22/10/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2018/QĐXXST-HS ngày 01/11/2018, đối với
ị cáo: T N Đ NH D, sinh năm 1970.
TQ: Thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Tr n Đình H và bà Tạ Thị N (đã chết) . Có vợ là Đ Thị T và 2 con. Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 2 năm 6 tháng tù về tội Tàng tr trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích.
Bị tạm gi ngày 09/7/2018. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Ngư i làm ch ng: Anh Đặng Đình K, sinh năm 2 1 trú tại thôn Đ xã S, huyện T, Thái Bình; Chị Đào Thanh N, sinh năm 1999, trú tại thôn T xã H, huyện T, Thái Bình; Chị Đ Thị T, sinh năm 1975, trú tại thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Ngư i ch ng ki n: Chị L Thị Phương O, sinh năm 1978, trú tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình; Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 198 , ông Tạ Đình N sinh năm 1956 đều trú tại thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình.
(Chị T có mặt, ng i làm ch ng khác và ng i ch ng ki n đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phi n tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ ngày 7/7/2 18, Tr n Đình D đi bộ đến khu vực bến xe cũ, thị trấn Di m Điền, Thái Thụy mua 2. . đồng ma túy, loại heroine và ma túy đá của một người nam giới khoảng 4 tuổi, không biết t n, địa chỉ và được khuyến mại thêm 1 túi ma túy loại Ketamine. D mang số ma túy đó về nhà chia thành nhiều túi nhỏ, để ở đ u giường trong phòng ngủ. Khoảng 21 giờ ngày 9/7/2 18, D đang ở nhà thì Đào Thanh N gọi điện cho D hỏi mua 5 . đồng ma túy đá. D đồng ý và hẹn N đến nhà. D lấy 1 túi ma túy đá cất vào túi qu n đợi N đến. N thu anh Đặng Đình K làm nghề xe ôm chở N xuống nhà D. Đến 21 giờ 3 phút cùng ngày, N tới cổng nhà D gọi D ra. N đưa cho D 5 . đồng. D nhận tiền cất vào túi áo ngực b n trái và đưa cho N 1 túi ma túy đá. N nhận gói ma túy cất vào túi qu n b n trái phía trước thì bị Lực lượng cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang. Trước sự chứng kiến của qu n chúng nhân dân, Công an đã lập bi n bản bắt người phạm tội quả tang, thu gi tại túi qu n của N 1 túi nilon trong suốt, b n trong chứa chất dạng tinh thể trong suốt (niêm phong mẫu số M1). N khai là túi ma túy đá vừa mua của D để sử dụng. Thu gi tại túi áo ngực của D 1 tờ tiền mệnh giá 5 . đồng, D khai là tiền vừa bán ma túy cho N. Thu tại túi qu n b n trái phía trước của D 1 chiếc điện thoại NOKIA màu trắng ghi đã cũ, kiểm tra người và phương tiện của K nhưng không phát hiện thu gi gì.
Khám xét nơi ở của D, Cơ quan điều tra thu gi tr n giường ngủ của D 5 túi nilon bên trong các túi đều chứa chất dạng tinh thể trong suốt; thu 1 túi nilon bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng (niêm phong mẫu số M2); 1 túi nilon bên trong có 1 túi nilon viền màu xanh, 5 gói được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, 1 gói được gói bằng giấy tráng kim màu vàng, trong các gói và túi tr n đều chứa chất bột màu trắng dạng cục (niêm phong mẫu số M3) và 1 cân điện tử đã hỏng.
Bản kết luận giám định số 292/KLGĐ-PC54 ngày 10/7/2 18 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Chất trong bao ni m phong M1 là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng , 654 gam.
Trong bao niêm phong M2: Chất dạng tinh thể trong suốt là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 1,2664 gam. Chất dạng tinh thể màu trắng là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng ,2596 gam.
Chất trong bao ni m phong M3 là ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng 0,3131 gam.
Tại bản cáo trạng số 103/CT-VKSTT ngày 19/10/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Tr n Đình D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phi n tòa: Tr n Đình D đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán các chất ma túy như trên.
Luận tội của Kiểm sát vi n gi nguy n nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 5 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo D từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung, ngoài ra còn đề xuất việc xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí.
Bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và không tranh luận.
Nói lời sau cùng, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của bản thân và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được tranh luận tại phi n tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ: Bi n bản bắt người phạm tội quả tang, bi n bản ni m phong vật chứng; Bản kết luận giám định; Lời khai của người làm chứng (Đào Thanh N, Đặng Đình K và Đ Thị T), lời khai của người chứng kiến (L Thị Phương O, Nguyễn Mạnh C và Tạ Đình N) cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo đã tr n 18 tuổi, có đ y đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được việc bán ma túy cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với l i cố ý trực tiếp.
Hành vi của bị cáo đã xâm hại quyền quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất gây nghiện, làm phát tán ma tuý trong cộng đồng dân cư, làm gia tăng tệ nạn ma tuý, gây bức xúc trong nhân dân.
Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Việc đưa vụ án ra xét xử và xử bị cáo mức hình phạt tương xứng là c n thiết để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, để răn đe, đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
"1. Ng i nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đ n 07 năm.
2. Phạm t i thu c m t trong các tr ng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đ n 15 năm: …
i) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối l ợng từ 05 gam đ n d ới 30 gam;
5. Ng i phạm t i còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đ n 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm ch c vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đ n 05 năm, tịch thu m t phần hoặc toàn b tài sản.”
Bị cáo thành kh n khai nhận n n được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo mua bán ma túy là để thu tiền lời, lẽ ra phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, song do kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có tài sản đáng kể n n không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ma túy thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành n n c n tịch thu ti u hủy. Chiếc điện thoại Nokia bị cáo dùng để li n lạc bán ma túy và số tiền 5 . đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có, c n tịch thu sung quỹ Nhà nước. Chiếc cân điện tử đã hỏng, bị cáo không lấy lại c n tịch thu ti u hủy.
Đối với người nam giới bán ma túy cho D, do không biết t n, địa chỉ của người này n n Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Đào Thanh N mua ma túy về sử dụng cho bản thân, N chưa có tiền án, tiền sự li n quan đến ma túy, lượng ma túy thu gi của N chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng tr n n Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp. Anh Đặng Đình K là người được N thu chở đi mua ma túy, bản thân anh K không biết, không li n quan đến hành vi mua bán ma túy của N, nên anh K không có l i.
Vì các lẽ tr n:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự; Khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/ BTVQH ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí tòa án;
1. Về tội danh: Bị cáo Tr n Đình D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: Tuyên phạt bị cáo Tr n Đình D 3 (ba) năm 6 (sáu) tháng t . Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm gi , ngày 09/7/2018.
3. Về x l vật ch ng:
- Tịch thu ti u huỷ toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, mẫu M1, M2, M3.
- Tịch thu sung công quỹ 1 điện thoại di động Nokia và số tiền 5 . đồng.
- Tịch thu ti u hủy 1 chiếc cân điện tử đã hỏng.
Các đồ vật, tài sản tr n có đặc điểm ghi trong bi n bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy ngày 22/10/2018.
4. Về án phí: Bị cáo Tr n Đình D phải chịu 2 . đồng án phí hình sự sơ th m.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuy n án, ngày 13/11/2018./. Nơi nh n:
| - Người tham gia tố tụng; - VKSND Thái Thụy; - Trại tạm giam Thái Bình; - Công an Thái Thụy; - Chi cục THADS Thái Thụy; - Tòa án tỉnh Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Lưu HCTP; - Hồ sơ vụ án. | TM. H Đ N T TH M TH M H N - CH T H N T (đã ký) Lưu Toàn Nghĩa |