- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA - LH - Dâng - Kiên - T11-2018"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị D. Bà Phạm Thị D được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc K.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2018/HNGĐ-ST Ngày: 30-11-2018. V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tạ Văn Đài,
2. Ông Lộc Văn Bậu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Phạm Hữu Tình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 463/2018/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2018 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 84/2018/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Tổ 23, ấp TT, xã TB, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Tổ 23, ấp TT, xã TB, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
(Bà D, ông K vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Phạm Thị D trình bày:
Bà D và ông Nguyễn Ngọc K tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào năm 1999 và được UBND xã TB, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/9/1999. Sau quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do lối sống tính cách không phù hợp, luôn bất đồng quan điểm, không chia sẻ được với nhau trong cuộc sống, có những lời lẽ xúc phạm, thiếu tôn trọng nhau. Hiện tại, hai vợ chồng đã ly thân được hơn 02 năm. Nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên bà D xin ly hôn với ông K.
Về con chung: ông bà có 02 người con chung tên: Nguyễn Thị Phương K, sinh ngày 31/5/1999 và Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 16/11/2003. Ly hôn, cháu K đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; bà D đồng ý để ông K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T và tạm thời bà D không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự hai bên thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
- Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Nguyễn Ngọc K vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được tiến hành theo quy định pháp luật. Đối với việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phạm Thị D. Cho bà D được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc K.
Về con chung: Bà D, ông K có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Phương K, sinh ngày 31/5/1999 và Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 16/11/2003. Cháu K đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không giải quyết. Giao cháu T cho ông K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T và tạm thời bà D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Do không có ý kiến trình bày của ông K nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016 buộc bà Nhung phải nộp án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
1.1. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong vụ án, yêu cầu khởi kiện và quy định pháp luật, “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” thuộc trường hợp quy định tại Điều 28; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom thực hiện thủ tục thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
1.2. Tòa án đã tiến hành triệu tập đương sự trong vụ án để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng bị đơn ông Nguyễn Ngọc K vắng mặt không có lý do; bà D có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Ngọc K tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào năm 1999 và được Ủy ban nhân dân xã TB, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 39 ngày 29/6/1999 nên là hôn nhân hợp pháp.
Bà D xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do lối sống tính cách không phù hợp, luôn bất đồng quan điểm, không chia sẻ được với nhau trong cuộc sống, có những lời lẽ xúc phạm, thiếu tôn trọng nhau. Hiện tại, hai vợ chồng đã ly thân được hơn 02 năm. Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành triệu tập ông K đến Tòa án để làm việc, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng ông K vẫn vắng mặt không có lý do thể hiện thái độ bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân trên. Xét thấy, vợ chồng bà D, ông K không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình nên tình trạng hôn nhân giữa bà D, ông K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, bà D xin ly hôn với ông K là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về con chung: Bà D, ông K có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Phương K, sinh ngày 31/5/1999 và Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 16/11/2003. Cháu K đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét, giải quyết. Căn cứ nguyện vọng của cháu T cũng như ý kiến của bà D, Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu T cho ông K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời bà D không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
. Về tài sản chung và nợ chung: Do không có ý kiến trình bày của ông K nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
. Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Về án phí: Bà D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị D. Bà Phạm Thị D được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc K.
2. Về con chung: Cháu Nguyễn Thị Phương K, sinh ngày 31/5/1999 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét, giải quyết. Giao cháu và Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 16/11/2003 cho ông Nguyễn Ngọc K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Phạm Thị D tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
5. Về án phí: Bà Phạm Thị D phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tại biên lai thu số 000663 ngày 27/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom.
6. Về quyền kháng cáo: Bà D, ông K vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND H. Trảng Bom; - THADS huyện Trảng Bom; - TAND tỉnh Đồng Nai; - UBND xã TB, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (Giấy CNKH số 39, cấp ngày 29/6/1999); - Lưu hồ sơ. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hội thẩm nhân dân HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TRẦN BÁ ĐỨC Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |