vanban.org

Bản án 102/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 28/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nông Thế M phạm t i "Tàng trữ trái phép ch t ma túy".

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 B luật hình sự năm 1999 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 B luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Nông Thế M 04 (Bốn) năm tù. Thời gian… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nông Thế M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo Khoản 1 Điều 194 BLHS - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đo…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nông Thế M phạm t i "Tàng trữ trái phép ch t ma túy".
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2017/HSST
Ngày: 28/12/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Văn Hải

2. Bà Nông Thị Duyên

Thư ký phiên tòa: Ông Lục Trường Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tØnh Cao B»ng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93A/2017/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2017/QĐXXST-HS ngày 15/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ và tên: NÔNG THẾ M, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 07/10/1985; Nơi sinh: Thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; H khẩu thường tr : Tổ MB, phường SH, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; Dân t c: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao đ ng tự do; Trình đ học v n: 12/12 phổ thông; Con ông: Nông Văn H, sinh năm: 1959; HKTT: Tổ S, phường SH, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; Con bà: Phạm Thị T, sinh năm: 1959, HKTT: Tổ MB, phường SH, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; Anh, chị, em ru t: Có 02 anh em, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ, con: Chưa; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 31/12/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 9 năm tù về các t i "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" và "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Bị cáo bị bắt ngày 25/7/2017, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Có mặt.

Người làm chứng:

1. Lục Nh t L - Sinh năm 1998; HKTT: Phố HB, thị tr n QU, huyện QU, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.

2. Phạm Ngọc H- Sinh năm 1994; HKTT: Tổ MB, phường HC, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.

3. Hà Thế H - Sinh năm 1992; HKTT: Tổ HH, phường SB, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.

4. Lô Thị Quỳnh N - Sinh năm 1987; HKTT: Tổ B, phường NX, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 ph t, ngày 25/7/2017 tại Tổ MB, phường SH, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng. Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang tại nhà của Nông Thế M (Thu c Tổ MB, phường SH, thành phố CB), m t nhóm đối tượng vừa có hành vi sử dụng trái phép ch t ma t y gồm: Nông Thế M (Sinh năm 1985, tr tại Tổ MB, phường SH, thành phố CB); Lục Nh t L (Sinh năm 1988, tr tại phố HB, thị tr n QU, Cao Bằng); Hà Thế H (Sinh năm 1992, tr tại tổ HH, phường SB, thành phố CB); Phạm Ngọc H (Sinh năm 1994, tr tại tổ MB, phường HC, thành phố CB), vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói nilon màu trắng trong bên trong có chứa ch t b t màu trắng dạng cục lẫn b t được niêm phong ghi (Mẫu 01), thu giữ trên nền nhà trong phòng khách cạnh chỗ ngồi của M có trọng lượng là: 0,31 gam (Không phảy ba mươi mốt gam).

- Thu giữ m t h p gi y mầu nâu đỏ để dưới gầm bàn bên trong có 01 gói nilon màu trắng trong có chứa ch t b t màu trắng dạng b t được niêm phong ghi (Mẫu 02) có trọng lượng là: 0,74 gam (Không phảy bẩy mươi tư gam); 01 gói nilon màu trắng viền đỏ bên trong đựng tinh thể màu trắng được niêm phong ghi (Mẫu 03) có trọng lượng là: 1,14 gam (M t phảy mười bốn gam).

- 01 bình nhựa nắp màu vàng da cam cao khoảng 20cm, nắp bình có đục 02 lỗ gắn ống thủy tinh dài khoảng 18cm, có gắn phễu thủy tinh họa tiết hình rồng, m t lỗ gắn ống nhựa màu xanh (M khai đ y là coóng, dụng cụ sử dụng ma t y đá; số ma t y thu giữ trên là của M, M để sử dụng).

Cùng ngày khám xét khẩn c p nơi ở của Nông Thế M thu giữ:

- 01 gói nilon màu trắng viền đỏ bên trong có chứa ch t mầu trắng dạng b t, thu giữ trong h p gi y màu trắng có chữ portable minispeaker để ở dưới ngăn kéo tủ quần áo, trong phòng ngủ của M, niêm phong ghi (KX Mẫu 01), có trọng lượng là: 0,43 gam (Không phảy bốn ba gam).

- 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa ch t b t màu xanh dạng cục lẫn vụn, thu giữ tại đệm dưới đầu giường trong phòng ngủ của M, niêm phong ghi (KX Mẫu 02), có trọng lượng là: 0,30 gam (Không phảy ba không gam).

- 01 gói nilon màu trắng viền đỏ, bên trong có chứa ch t màu trắng dạng b t thu giữ bên trong giỏ nhựa màu đỏ để trên giá treo cuối giường trong phòng ngủ của M, niêm phong ghi (KX Mẫu 03), có trọng lượng là: 1,37 gam (M t phảy ba bảy gam).

- 01 kiếm bằng kim loại đầu nhọn dài khoảng 100 cm cả cán, có vỏ màu đen, phần lưỡi kiếm r ng nh t là 4cm.

- 01 đĩa sứ màu trắng có họa tiết hình hoa hồng đường kính khoảng 18cm (Hình trèn) thu giữ trên bàn trong phòng khách của M. M khai số ma túy Công an thu giữ là của M, M để sử dụng.

Ngày 07/8/2017 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã ra quyết định trưng cầu giám định số 113 đối với vật chứng vụ án. Tại bản kết luận giám định số: 4057/C54 (TT2) ngày 18/9/2017 của Viện khoa học hình sự, Tổng cục cảnh sát kết luận:

- Mẫu chất bột màu trắng trong các niêm phong kí hiệu QT01, QT02, KX01, KX03 gửi giám định đều là ma túy, loại: Ketamine.

- Mẫu tinh thể màu trắng trong niêm phong kí hiệu QT03 gửi giám định là ma túy loại: Methamphetamine, Ketamine.

- Mẫu chất bột dạng cục, màu xanh trong niêm phong kí hiệu KX02 gửi giám định là ma túy loại: Ketamine.

Methamphetamine là ch t ma t y (Danh mục II, STT: 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ).

Ketamine là ch t ma t y (Danh mục III, STT: 35, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ).

Tại cơ quan điều tra Nông Thế M khai nhận như sau: Trong tháng 6/2017, M đến cửa khẩu TL, Cao Bằng và sang Trung Quốc gặp m t người tên là K (Người Trung Quốc không rõ địa chỉ) để trao đổi mua buôn bán lợn. Qua nói chuyện M biết K có ma túy Methamphetamine và Ketamine nên M hỏi xin K m t ít mang về để sử dụng cho bản thân. K nh t trí đưa cho M 01 gói ma túy Methamphetamine và 01 gói Ketamine; 02 viên thuốc lắc. Sau đó M mang về nhà sử dụng nhiều lần hết 01 viên thuốc lắc, m t phần Methamphetamine và 01 phần Ketamine. Số ma t y Ketamin, M chia ra 04 gói nhỏ và để ở nhiều nơi khác nhau để tiện sử dụng, còn lại 01 gói Methamphetamine để dưới gầm bàn và 01 viên thuốc lắc màu xanh Ketamine để đầu giường trong phòng ngủ.

Đến khoảng 4 giờ sang ngày 25/7/2017 Lục Nh t L đi xe ô tô biển kiểm soát 11C-0B555 đến nhà M để bàn chuyện làm ăn với C (Anh trai M), do chưa gặp được C nên L ngồi đợi. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày M mang ma túy Methamphetamine để ở dưới gầm bàn ra cùng L sử dụng, sau khi sử dụng xong thì Hà Thế H (Còn gọi là CV) gọi điện thoại cho M nói là Phạm Ngọc H (Còn gọi là HN) đang ở nhà nghỉ TL thu c KmB, ĐT, thành phố CB. Do trước đó Phạm Ngọc H có vay của M 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng) nhưng chưa trả, nên M mượn xe ô tô của L đi đón Hà Thế H, để cùng đến nhà nghỉ TL bảo Phạm Ngọc H về nhà của M để viêt gi y nợ. Sau khi về đến nhà M được khoảng 15 ph t thì M vào phòng nằm, sau đó gọi điện thoại cho Lô Thị Quỳnh N (Là bạn gái M) đến n u cơm cùng nhau ăn, còn Hà Thế H ngồi tại phòng khách nhìn th y ma t y Methamphetamine ở trong coóng dưới bàn uống nước còn nên đã mang ra cùng Phạm Ngọc H sử dụng. Sau khi sử dụng xong M từ trong phòng ra và bảo Hà Thế H gọi cho Nông Trịnh Tiến T đến ăn cơm. Đến 11 giờ 30 ph t cùng ngày đang chuẩn bị ăn cơm thì M bị Công an thành phố Cao Bằng bắt quả tang thu giữ toàn b vật chứng.

Hành vi trên đây của Nông Thế M đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép ch t ma t y theo khoản 1 Điều 194 B luật hình sự.

Về nguồn gốc số ma túy Nông Thế M khai được m t người Trung Quốc tên là K (Không rõ địa chỉ) cho, việc trao đổi không ai biết nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Đối với Lục Nh t L, Hà Thế H, Phạm Ngọc H đã có hành vi sử dụng trái phép ch t ma t y tại nhà M, qua điều tra xác định những người này không có hành vi mua bán ma t y với M và không liên quan đến hành vi phạm t i của M, do đó cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra quyết định xử phạt hành chính đối với những người này.

Đối với Nông Trịnh Tiến T và Lô Thị Quỳnh N, qua điều tra không được biết về việc các đối tượng trên sử dụng ma t y và không liên quan đến hành vi phạm t i của M, do đó không có căn cứ để xử lý.

Tại Cáo trạng số 75/KSĐT-MT ngày 20/10/2017 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo Nông Thế M về t i "Tàng trữ trái phép ch t ma túy" theo khoản 1 Điều 194 B luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nông Thế M thừa nhận hành vi phạm t i của mình đ ng như n i dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nh t trí với trọng lượng ma t y bị thu giữ và n i dung bản kết luận giám định số 4057/C54(TT2) ngày 18/9/2017 của Viện khoa học hình sự, Tổng cục Cảnh sát.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị H i đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 B luật Hình sự 1999, điểm c khoản 1 Điều 249 B luật hình sự 2015, tuyên bố bị cáo Nông Thế M phạm téi "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị xử phạt bị cáo từ 04 (Bốn) đến 05 (Năm) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 B luật hình sự, Điều 76 B luật tố tụng hình sự, đề nghị H i đồng xét xử tịch thu tiêu hủy: 01 bình nhựa nắp màu vàng cam cao khoảng 20 cm; 01 kiếm bằng kim loại đầu nhọn dài khoảng 100 cm cả cán; 01 đĩa sứ màu trắng; 01 phong bì còn nguyên vẹn, bên trong phong bì là toàn b vỏ phong bì và mẫu vật còn lại của QT03 và KX03; 01 phong bì còn nguyên vẹn, mặt trước ghi Tổng cục cảnh sát, Viện khoa học hình sự số: 4057/C54(TT2) kính gửi cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Mẫu vật hoàn trả sau giám định (Mẫu ma t y).

Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận t i của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị H i đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nh t.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, H i đồng xét xử xét th y như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định: Vào hồi 11 giờ 30 ph t ngày 25/7/2017 Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang Nông Thế M có hành vi tàng trữ trái phép ch t ma t y tại nhà của M thu c Tổ MB, phường SH, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng, vật chứng thu giữ gồm 03 mẫu: QT 01, QT 02, QT 03 có trọng lượng lần lượt là 0,31 gam, 0,74 gam và 1,14 gam. Vào hồi 12 giờ 40 ph t cùng ngày tiến hành khám xét nơi ở của Nông Thế M tại Tổ MB, phường SH, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng thu giữ được 03 mẫu: KX 01, KX 02, KX 03 có trọng lượng lần lượt là: 0,43 gam, 0,30 gam và 1,37 gam. Sáu mẫu vật thu giữ đối với Nông Thế M có tổng trọng lượng là 4,29 gam.

Kết luận giám định số 4057/C54(TT2) ngày 18/9/2017 của Viện khoa học hình sự, Tổng cục Cảnh sát kết luận:

- Mẫu chất bột màu trắng trong các niêm phong kí hiệu QT01, QT02, KX01, KX03 gửi giám định đều là ma túy, loại: Ketamine.

- Mẫu tinh thể màu trắng trong niêm phong kí hiệu QT03 gửi giám định là ma túy loại: Methamphetamine, Ketamine.

- Mẫu chất bột dạng cục, màu xanh trong niêm phong kí hiệu KX02 gửi giám định là ma túy loại: Ketamine.

Methamphetamine là ch t ma t y (Danh mục II, STT: 67, nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ).

Ketamine là ch t ma t y (Danh mục III, STT: 35, nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ).

Số ma túy trên M khai được m t người Trung Quốc tên là K (Không biết địa chỉ) cho khi M sang Trung Quốc trao đổi mua bán lợn với K. M tàng trữ số ma t y này với mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế đ đ c quyền quản lý của nhà nước về các ch t ma t y, gây m t trật tự trị an, an toàn xã h i và gây ra tâm lý hoang mang lo ngại trong quần ch ng nhân dân. Bị cáo có trình đ học v n lớp 12/12 phổ thông, là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã h i và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố c u thành t i “Tàng trữ trái phép ch t ma t y”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về t i “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” theo khoản 1 Điều 194 B Luật hình sự là có căn cứ và đ ng người, đ ng t i.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân x u, bị cáo nhận thức được tác hại của ma t y đối với sức khỏe con người và đối với toàn xã h i nhưng bị cáo vẫn tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân và tụ tập với những người khác cùng nhau sử dụng ma t y tại nhà của bị cáo, ngoài ra, bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích (Ngày 31/12/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 9 năm tù về các t i "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" và "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"), do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Tái phạm" theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 B luật hình sự. Xét th y bị cáo đã được giáo dục, cải tạo nhưng không l y đó làm bài học cho mình mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm t i nên cần áp dụng hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo mới đủ khả năng giáo dục, cải tạo bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm t i của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là "Thành khẩn khai báo" quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 B luật hình sự.

Ngoài hình phạt chính, theo khoản 5 Điều 194 B luật hình sự bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét th y bị cáo là con nghiện, không có nghề nghiệp ổn định, do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

H i đồng xét xử xét th y mức đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo hoàn toàn phù hợp, tương xứng với tính ch t, mức đ hành vi phạm t i của cáo nên cần được ch p nhận. Xét th y cần áp dụng quy định có lợi cho bị cáo theo điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 B luật hình sự năm 2015 để xét xử bị cáo Nông Thế M với khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù.

Đối với Lục Nh t L, Hà Thế H, Phạm Ngọc H đã có hành vi sử dụng trái phép ch t ma t y tại nhà M, qua điều tra xác định những người này không có hành vi mua bán ma t y với M và không liên quan đến hành vi phạm t i của M, do đó cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra quyết định xử phạt hành chính là đ ng pháp luật.

Về xử lý vật chứng và tài sản:

Vật chứng thu giữ là vật nhà nước c m lưu hành và đồ vật dùng vào việc sử dụng trái phép ch t ma t y cần tịch thu tiêu hủy, gồm có: 01 bình nhựa nắp màu vàng cam, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 phong bì bên trong là toàn b vỏ phong bì và mẫu vật còn lại của QT 03 và KX 03, 01 phong bì ghi mẫu vật hoàn trả sau giám định.

Đối với chiếc kiếm bằng kim loại: không liên quan đến hành vi phạm t i của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu được trả lại, xét th y đồ vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nông Thế M phạm t i "Tàng trữ trái phép ch t ma túy".

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 B luật hình sự năm 1999 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 B luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nông Thế M 04 (Bốn) năm tù. Thời gian ch p hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 25/7/2017.

2. Về xử lý vật chứng và tài sản:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 B luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 B luật tố tụng hình sự, xử tịch thu tiêu hủy:

- 01 (m t) bình nhựa nắp màu vàng cam cao khoảng 20 cm, nắp bình đục hai lỗ, trong đó m t lỗ gắn ống phễu thủy tinh dài khoảng 18 cm họa tiết hình rồng, m t lỗ gắn ống h t nhựa màu xanh.

- 01 (m t) kiếm bằng kim loại đầu nhọn dài khoảng 100 cm cả cán, có vỏ màu đen, phần lưỡi r ng nh t khoảng 4 cm.

- 01 (m t) đĩa sứ màu trắng có họa tiết hình hoa hồng có đường kính khoảng 18 cm.

- 01 (m t) phong bì còn nguyên vẹn, bên trong phong bì là toàn b vỏ phong bì và mẫu vật còn lại của QT03 và KX03, mặt trước ghi tang vật vụ án: Nông Thế M. Có hành vi tàng trữ trái phép ch t ma t y. Bắt ngày 25/7/2017. Mặt sau là 03 (ba) hình d u tròn của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng và chữ ký của những người tham gia niêm phong.

- 01 (m t) phong bì còn nguyên vẹn, mặt trước ghi Tổng cục cảnh sát, Viện khoa học hình sự; số: 4057/C54(TT2) kính gửi Cơ quan CSĐT Công an TP Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Mẫu vật hoàn trả sau giám định (mẫu ma t y). Mặt sau có 05 (năm) hình d u tròn của Viện khoa học hình sự, B Công an và chữ ký của những người tham gia niêm phong.

Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/10/2017.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 B luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử bu c bị cáo Nông Thế M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

4 Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ