- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Quang T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Quang T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI -------------- Bản án số:1016/2025/HSPT Ngày: 04/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tô Thanh Tú
+ Các Thẩm phán: Bà Chử Phương Ngọc
Ông Đinh Quốc Trí
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Từ Khánh Duy - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Đặng Khánh Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 895/2025/HSPT ngày 12/11/2025 do có kháng cáo của bị cáo Trương Quang T và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 49/2025/HSST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11, thành phố Hà Nội.
Bị cáo kháng cáo và kháng nghị:
Trương Quang T (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1989 tại tỉnh Hà Tĩnh; Giới tính: Nam; ĐKHKTT: tổ dân phố Y, phường T, thành phố H, (nay là phường T) tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở hiện nay: phường N, thị xã M (nay phường M), tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trương Quang C, sinh năm 1950; Con bà: Trần Thị A, sinh năm 1956`; D chỉ bản số 239 lập ngày 16/4/2025; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú ngày 25/9/2025, hiện được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
*Người bị hại: Anh Nguyễn Xuân T1, sinh năm 2004.
Trú tại: Thôn V, xã V, huyện T, (nay là xã Đ), thành phố Hà Nội – Có mặt tại phiên toà.
Trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Quang T2, sinh năm: 1989; trú tại: Đ, xã T, huyện T, (nay là xã Đ), thành phố Hà Nội không có kháng cáo, kháng nghị và không có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 11 thì vụ án có nội dung như sau:
Khoảng trưa ngày 19/8/2024, sau khi ngồi uống nước ở khu vực công viên C (nằm bên phải đường Q theo hướng đường P đi T) thuộc phường T, thành phố Hà Nội, Trương Quang T (có giấy phép lái xe mô tô hạng A1) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không gắn biển kiểm soát tham gia giao thông mà không đội mũ bảo hiểm với mục đích đi ra đường P Nếu đi đúng quy định thì T phải điều khiển xe rẽ phải sau đó đi hết dải phân cách cứng ở giữa rồi quay đầu xe lại hướng ra đường P nhưng do thời điểm đó ít phương tiện qua lại nên T đã điều khiển xe mô tô rẽ trái đi ngược chiều khoảng 200 mét sau đó bật xi nhan, di chuyển dần sang bên phải đi cách mép dải phân cách cứng khoảng 01 mét, đầu xe hướng đường P Khi đi gần hết dải phân cách cứng, T có quan sát thấy 01 xe mô tô do anh Nguyễn Xuân T1 (có giấy phép lái xe mô tô hạng A1) điều khiển di chuyển theo hướng ngược lại với tốc độ nhanh cách xe T khoảng 30 mét. Lúc này, anh T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 30M8-1905 di chuyển với tốc độ khoảng 30 - 40km/h đánh lái sang phải để đi vào làn đường đầu tiên bên phải dải phân cách cứng theo hướng P - T. Khi đó T1 thấy T đang điều khiển xe mô tô đi ngược chiều, chỉ cách xe của T1 lúc đó khoảng 05m. Khi thấy xe của T1, T vẫn bật xi nhan phải, giảm tốc độ xe về khoảng 15km/h, rà hai chân xuống dưới đất nhưng không kịp bóp còi. Ngay sau đó, hai phương tiện xảy ra va chạm với nhau khiến T và T1 đều ngã ra đường, bị thương tích và được người dân gọi xe cấp cứu tại Bệnh viện Q.
Ngày 20/8/2024, Đội cảnh sát giao thông trật tự phối hợp với Đ - Công an huyện T và Công an xã T tiến hành khám nghiệm hiện trường; tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 30M8-1905 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không BKS. Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện:
Tình trạng hiện trường khi có mặt: Hiện trường đã bị xáo trộn một phần do thời gian xảy ra đã lâu, nhiều phương tiện qua lại, hai phương tiện liên quan đã được dựng lên, nạn nhân đã được đưa đi cấp cứu, không đánh dấu các vị trí.
Hiện trường và quá trình khám nghiệm: Hiện trường đoạn đường xảy ra vụ việc là đường trong khu B, là đường đôi có dải phân cách cứng giữa đường. Chiều Phạm T3 - Thanh Liệt có vạch sơn đứt chia hai làn đường rộng bằng nhau là 1020cm, có vạch sơn chỉ hướng đi về phía đường T và công viên C nằm trên hai làn đường này. Có biển báo trên lề đường bên phải, cảnh báo giao nhau với đường không ưu tiên, bên phải dải phân cách.
Xác định điểm mốc, mép đường chuẩn:
Chọn điểm mốc là đầu dải phân cách cứng giữa đường hướng đường P
Chọn mép đường chuẩn là mép bên phải dải phân cách cứng giữa đường theo chiều đường P - T.
Các dấu vết ghi nhận tại hiện trường gồm:
Vị trí số 1 là xe mô tô không gắn biển kiểm soát, nhãn hiệu Honda Wave a màu đỏ, đen dựng ở làn đường đầu tiên bên phải dải phân cách theo hướng P - T. T4 trục bánh trước cách mép đường chuẩn 310cm, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 200cm. Đo ngang về phía đường P đến dấu vết dầu loang là 110cm.
Vị trí số 2 là xe mô tô BKS 30M8-1905 dựng ở làn đường đầu tiên bên phải dải phân cách theo hướng P - T. T4 trục bánh trước xe cách mép đường chuẩn 140cm, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 140cm, đo đến đám máu ở vị trí số 3 là 55cm, đo ngang về hướng đường P đến điểm mốc là 1140cm. Đo đến tâm trục bánh sau xe mô tô ở vị trí số 1 là 130cm.
Vị trí số 3 là đám máu kích thước (50x30)cm nằm trên đường cách mép đường chuẩn 100 cm.
Vị trí số 4 là vết dầu loang KT (25x20)cm nằm trên đường cách mép đường chuẩn 250cm.
Vị trí số 5 là vết dầu loang KT(20x20)cm nằm trên đường phía dưới động cơ xe mô tô ở vị trí số 2
Vị trí số 6 là đám máu kích thước (40x20)cm nằm trên đường cách mép đường chuẩn 380cm.
Xung quanh hiện trường còn nhiều mảnh nhựa vỡ nằm rải rác giữa 02 xe mô tô.
Ngày 01/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, tiến hành dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông theo tài liệu hiện trường và chỉ dẫn của Trương Quang T và Nguyễn Xuân T1, kết quả:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông là tại đường Q, lối vào cổng Công viên Chu Văn An, phường Thanh Liệt, Thành phố Hà Nội.
Đường Quang Liệt là đường 2 chiều, có vạch sơn nét đứt màu vàng ở giữa chia 2 chiều đường. Lòng đường rộng 10m, chiều Phạm T3 đi T và ngược lại đều rộng 5m. Bên phải mép đường Q chiều đường P đi T có dải phân cách cứng rộng 1m, bên phải dải phân cách cứng theo chiều Phạm T3 đi T có vạch sơn nét đứt màu trắng ở giữa chia 2 làn đường, mỗi làn đường rộng 10,2m, trên mỗi làn đường có vạch sơn chỉ hướng đi thẳng về T và rẽ phải vào Công viên Chu Văn A1.
Xác định điểm mốc là đầu dải phân cách cứng theo hướng Phạm T3 đi T.
Chọn mép chuẩn là mép dải phân cách cứng theo chiều Phạm T3 - đường T.
Quá trình dựng lại hiện trường, Nguyễn Xuân T1 chỉ hướng di chuyển trên đường Q là từ đường P đi T. T1 chỉ vị trí bắt đầu phát hiện xe mô tô của Trương Quang T khi 02 xe chỉ cách nhau 5,7m. T1 trình bày trước đó T1 không quan sát thấy xe của T do trên dải phân cách cứng có trồng các cây có chiều cao khoảng hơn 1m nên khi đang đi thẳng từ đường P vào và bắt đầu đánh lái sang phải thì T1 không quan sát được các phương tiện di chuyển ngược chiều sát dải phân cách cứng.
Quá trình dựng lại hiện trường, Trương Quang T chỉ hướng di chuyển là từ cổng Công viên Chu Văn A1 rẽ trái đi ngược hướng khoảng 200m sau đó xi nhan phải đi cách mép dải phân cách cứng giữa đường khoảng 1m. T chỉ vị trí bắt đầu phát hiện xe mô tô của T1 thì 2 phương tiện cách nhau 37,1m. Toàn giảm tốc độ nhưng 2 phương tiện vẫn va chạm với nhau.
Ngày 03/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định dấu vết va chạm để lại trên xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 30M8-1905 và xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không gắn biển kiểm soát. Tại Kết luận giám định số 6765/KL-KTHS ngày 13/09/2024 của V - Bộ C1 kết luận:
1. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm để lại trên xe mô tô biển số 30M8-1905 và xe mô tô nhãn hiệu Honda wave không gắn biển số. Vị trí va chạm đầu tiên giữa 02 phương tiện.
a. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 30M8-1905 và xe mô tô nhãn hiệu Honda wave không gắn biển số.
Dấu vết biến dạng, trượt, xước ở mặt ngoài đĩa phanh bánh trước bên phải xe mô tô biển số 30M8-1905 có chiều từ mặt lăn vào tâm trục bánh xe (ảnh 7 trong bản ảnh giám định), phù hợp dấu vết biến dạng, trượt, xước ở mặt ngoài phía trước giảm xóc trước bên phải xe mô tô nhãn hiệu Honda wave không gắn biển số. Dấu vết va chạm ở xe mồ tô nhãn hiệu Honda wave không gắn biển số tại vị trí này có chiều từ trước về sau (ảnh 8 trong bản ảnh giám định).
Dấu vết trượt, xước, mất cao su màu đen ở mặt ngoài bên phải lốp bánh trước xe mô tô biển số 30M8-1905 có chiều từ mặt lăn vào tâm trục bánh xe (ảnh 9 trong bản ảnh giám định), phù hợp dấu vết trượt, xước, bám dính chất màu đen (dạng cao su) ở mặt ngoài phía trước yếm chắn gió bên phải xe mô tô nhãn hiệu Honda wave không găn biến số. Dấu vết va chạm ở xe mô tô nhãn hiệu Honda wave không gắn biển số tại vị trí này có chiều từ trước về sau (ảnh 10 trong bản ảnh giám định).
b. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm khác trên xe mô tô biến số 30M8-1905 và xe mô tô nhãn hiệu Honda wave không gắn biển số:
Dấu vết trượt, xước ở mặt ngoài ốp nhựa đầu xe, kính đèn xin đường phía trước, đầu tay lái, bàn đề chân trước bên trái xe mô tô biên số 30M8-1905 (ảnh 12, 13, 14 trong bản ảnh giám định) có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với mặt đường (khi xe mô tô biến số 30M8-1905 đổ nằm nghiêng trái trên mặt đường).
Dấu vết trượt, xước ở mặt ngoài đầu bàn để chân trước, đầu bàn để chân sau, tay nâng sau bên trái xe mô tô nhãn hiệu Honda wave không gắn biển số (ảnh 16, 17, 18 trong bản ảnh giám định) có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với mặt đường (khi xe mô tô nhãn hiệu Honda wave không gắn biển số đổ nằm nghiêng trái trên mặt đường).
Các dấu vết còn lại ở xe mô tô biển số 30M8-1905 và xe mô tô nhãn hiệu Honda wave không gắn biển số được ghi nhận trong "Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông" của Công an huyện T hiện tại không thể hiện rõ, không đủ yếu tố giám định so sánh.
c. Không xác định được vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển số 30M8 - 1905 và xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không gắn biển số.
2. Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển số 30M8 - 1905 và xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không gắn biển số theo dấu vết phanh khi xảy ra tai nạn.
Ngày 21/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định tổn thương trên cơ thể người sống đối với Trương Quang T. Bản Kết luận giám định số 1761/KLTTCT-TTPY ngày 17/12/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận:
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trương Quang T tại thời điểm giám định là: 40% (Bốn mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.
Cơ chế hình thành thương tích: các tổn thương của anh Trương Quang T do vật tày, vật tày có cạnh gây ra.
Ngày 21/08/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định tổn thương trên cơ thể người sống đối với Nguyễn Xuân T1. Tại Kết luận giám định số 194/KLTTCT-TTPY ngày 21/02/2025 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận:
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Xuân T1 tại thời điểm giám định là: 68% (Sáu mươi tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.
Cơ chế hình thành thương tích: các tổn thương của anh Nguyễn Xuân T1 do vật tày, vật tày có cạnh gây ra.
Hiện chưa đánh giá được hết các tổn thương và mức độ di chứng, biến chứng, đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định ra viện và đã tháo bỏ phương tiện kết hợp xương.
Ngày 31/03/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung đối với Nguyễn Xuân T1. Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương trên cơ thể người sống số 592/KLTTCT-TTPY ngày 27/05/2025 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
1. Các kết quả chính:
1.1. Giữ nguyên tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại mục 1.1, 1.2, 1.3, 1.4, 1.5, 1.6, 1.7, 1.8, 1.9, 1.10 phần IV và cơ chế hình thành thương tích tại bản Kết luận tổn thương cơ thể trên người sống số 194/KLTTCT-TTPY ngày 21/02/2025 của Trung tâm pháp y - Sở Y đối với anh Nguyễn Xuân T1:
- Vết thương đuôi cung lông mày - mi trên mắt phải, liền sẹo tốt: 03%
- Tụ máu dưới màng cứng vùng trán phải: 11%
- Vỡ xương trán - thái dương phải:10%
- Vỡ xương nền sọ (Vỡ xương cánh bướm lan vào xoang sàng, xoang bướm): 16%
- Xuất huyết dưới nhện trán đỉnh phải:11%
- Vỡ xương gò má - cung tiếp bên phải (đã mổ kết hợp xương): 10%
- Gãy mỏm vẹt xương hàm dưới phải:08%
- Vỡ phức tạp các thành ổ mắt phải (đã mổ kết hợp xương): 07%
- Vỡ phức tạp các thành xoang hàm phải (đã mổ kết hợp xương): 09%
- Ổ tổn thương nhu mô não thùy trán phải: 21%
1.2. Bổ sung:
- Sẹo niêm mạc ngách tiền đình hàm trên: 01%
- Sẹo vết mổ vùng trán: 02%
- Lác ngoài mắt phải, thị lực hai mắt 10/10: 05%
2. Kết luận:
2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Xuân T1 sau hai lần giám định là: 03% + 11% + 10% + 16% + 11% + 10% +08% + 07% + 09% + 21% + 01% + 02% + 05% = 70% (Bảy mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.
2.2. Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương của anh Nguyễn Xuân T1 do vật tày, tày có cạnh gây ra.
Ngày 28/03/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số khung, số máy đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không gắn biển kiểm soát. Tại Kết luận giám định số 2004/KL-KTHS ngày 04/04/2025 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:“Xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE không đeo biển kiểm soát: Số khung: RLHJA391XLY217835 và số máy: JA39E-1555710 là số nguyên thủy.”
Ngày 10/06/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 30M8-1905 và xe máy nhãn hiệu Honda wave Alpha, không gắn biển kiểm soát bị thiệt hại sau tai nạn. Tại Kết luận định giá tài sản số 58/KL-HĐĐGTS ngày 12/06/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện T, kết luận:
“Giá trị thiệt hại của xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 30M8-1905 (đã qua sử dụng): 7.850.000 đồng.
Giá trị thiệt hại của xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, không gắn biển số (đã qua sử dụng): 4.500.000 đồng.”
Ngày 25/9/2024, Trương Quang T đến Công an huyện T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của Trương Quang T phù hợp với lời khai của người bị hại Nguyễn Xuân T1 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 30M8-1905, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 30M8-1905, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ phương tiện và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 270228024919 tạm giữ của anh Nguyễn Xuân T1. Quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Nguyễn Xuân T1 nên ngày 12/08/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu và trao trả lại toàn bộ số tài sản trên cho anh T1, anh T1 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
Đối với thiệt hại của xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 30M8-1905 do tai nạn là 7.850.000 đồng, anh T1 không có yêu cầu đề nghị gì về bồi thường thiệt hại.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không mang biển kiểm soát tạm giữ của Trương Quang T, quá trình điều tra xác định: chủ sở hữu là anh Nguyễn Quang T2 mua tại Công ty TNHH T8; địa chỉ: số A đường T, phường V, quận H, thành phố. Hà Nội vào ngày 22/10/2020. Tuy nhiên chưa thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký xe. Anh T5 cho anh Lê Văn H (sinh năm: 1987, quê quán: Nghệ An) mượn để làm phương tiện đi lại. Ngày 19/8/2024, anh T5 được anh H thông báo là đã cho Trương Quang T mượn lại xe để đi làm điện nước, trên đường đi thì xảy ra tai nạn giao thông. Anh T5 không có yêu cầu gì về thiệt hại của xe mô tô trên. Ngày 07/08/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã lập biên bản bàn giao xe mô tô trên cho Phòng PC08 - Công an thành phố H để tiến hành xử lý theo quy định.
Về dân sự: Anh Nguyễn Xuân T1 yêu cầu Trương Quang T bồi thường 100.000.000 đồng trong đó tiền viện phí là 35.000.000 đồng, còn lại 65.000.000 đồng yêu cầu bồi thường tổn thất về sức khỏe và tinh thần. Đến nay, Trương Quang T đã bồi thường cho anh Nguyễn Xuân T1 30.000.000 đồng.
Đối với các lỗi vi phạm hành chính của Trương Quang T, Nguyễn Xuân T1, Nguyễn Quang T2, Cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị Phòng C2 – Công an thành phố H xử phạt hành chính theo quy định.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 49/2025/HSST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11, thành phố Hà Nội đã xử và quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trường Quang T6 phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Quang T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; 585; 590 Bộ luật Dân sự. Ghi nhận bị cáo tự nguyện bồi thường số tiền 100.000.000 đồng cho người bị hại. Bị cáo đã bồi thường 30.000.000đồng, buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 70.000.000 đồng cho người bị hại.
Ngoài ra bản án còn tuyên các quyết định khác vê án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, bị cáo Trương Quang T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, thành phố Hà Nội kháng nghị phần hình phạt của bản án với nhận định cho rằng người bị hại có một phần lỗi, bị cáo có nhân thân tốt, có thể áp dụng cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo ngoài xã hội.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 giữ nguyên nội dung kháng nghị. Bị cáo và người bị hại thống nhất trình bày bị cáo đã bồi thường thêm cho người bị hại số tiền 30.000.000 đồng. Người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường nốt số tiền còn lại theo quyết định của bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã kết luận:
Về hình thức: Kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 là đúng về chủ thể kháng cáo, kháng nghị và còn trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trương Quang T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, xét trong vụ án này, người bị hại cũng có một phần lỗi khi chuyển vào làn đường ở vị trí khuất tầm nhìn nhưng không giảm tốc độ, thiếu chú ý quan sát. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nguyên nhân gây tai nạn là do lỗi hỗn hợp; bị cáo cũng bị thiệt hại sức khoẻ nhưng cũng rất tích cực bồi thường cho người bị hại trong phạm vi khả năng của bản thân. Từ sau khi xét xử sơ thẩm đã tiếp tục bồi thường thêm cho người bị hại. Vì vậy, có thể xem xét cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, tạo điều kiện cho bị cáo được lao động, kiếm tiền để tiếp tục bồi thường cho người bị hại.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Quang T và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, thành phố Hà Nội, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 49/2025/HSST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11, thành phố Hà Nội theo hướng giảm hình phạt và cho hưởng án treo, cụ thể:
Tuyên bố bị cáo Trường Quang T6 phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Quang T 12 đến 15 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho người bị hại số tiền 60.000.000 đồng. Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho người bị hại số tiền 40.000.000 đồng.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, không có người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, thành phố Hà Nội là còn trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị và đúng về chủ thể kháng cáo, kháng nghị nên được chấp nhận.
Về nội dung:
Xét kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 thì thấy:
Xét lời khai của bị cáo, người bị hại tại phiên toà, căn cứ vào bản ảnh hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Nguyên nhân gây ra tai nạn, dẫn tới người bị hại bị thiệt hại 70% sức khoẻ có phần lớn lỗi của bị cáo do điều khiển xe ngược chiều, đi không đúng phần đường quy định, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 va chạm với người bị hại. Người bị hại có một phần lỗi khi chuyển hướng vào làn đường khi bị khuất tầm nhìn đã không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn, vi phạm điểm c khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận nội dung kháng nghị về phần xác định lỗi của bị cáo và người bị hại của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, thành phố Hà Nội.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo thừa nhận thực hiện các hành vi như án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 13 giờ 00 ngày 19/8/2024, tại đường Q, thuộc xã T, huyện T, (nay là phường T), thành phố Hà Nội. Trương Quang T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, không biển kiểm soát đi ngược chiều đường, không đúng phần đường quy định va chạm với anh Nguyễn Xuân T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 30M8-1905 đi đúng phần đường, làn đường quy định nhưng khi chuyển hướng vào làn đường khi bị khuất tầm nhìn đã không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn, vi phạm điểm c khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024. Hậu quả: Anh Nguyễn Xuân T1 bị tổn hại sức khỏe 70%, thiệt hại về tài sản: 7.850.000đồng. Trương Quang T bị tổn hại sức khỏe 40%, thiệt hại tài sản 4.500.000đồng. Hành vi của Trương Quang T đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 – Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2008 nay là khoản 1 Điều 10 – Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Với hành vi nêu trên của Trương Quang T đã phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trương Quang T với tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho hành vi phạm tội của bị cáo như: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã đến cơ quan điều tra đầu thú, bồi thường một phần theo yêu cầu của bị hại; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử thấy nguyên nhân gây ra tai nạn là do lỗi hỗn hợp; bị cáo cũng bị thiệt hại về sức khoẻ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đã tích cực bồi thường cho người bị hại, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên có thể xem xét cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong cộng đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã tiếp tục trả cho người bị hại thêm số tiền 30.000.000 đồng. Cần buộc bị cáo phải có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường cho người bị hại số tiền 40.000.000 đồng.
Về án phí: Do được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Sửa phần án phí dân sự sơ thẩm do bị cáo đã bồi thường tiếp cho người bị hại.
[5 ] Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Sửa một phần của bản án hình sự sơ thẩm số 49/2025/HSST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11, thành phố Hà Nội, cụ thể:
1.1- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Quang T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
1.2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Quang T 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường M, tỉnh Hưng Yên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
1.3.Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trương Quan T7 có nghĩa vụ bồi thường cho người bị hại Nguyễn Xuân T1 số tiền 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thanh toán cho người được thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Lauật thi hành án dân sự.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136- Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo không phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo phải chịu 2.000.000 (Hai triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - CA, VKSND, THADS, TAND KV 11, TP Hà Nội. - VKSND TP Hà Nội; - Bị cáo; Người BH; Người có QLNVLQ - UBND nơi bị cáo cư trú; - Lưu HS,VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thanh Tú |