- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”; - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– Bản án số: 1016/2022/HS-PT Ngày: 02/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa Pên tòa:
Ông Trần Đức Hiếu
Thẩm phán:
Ông Phạm Năng Thành Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thanh Nhã
- Thư ký Pên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia Pên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thúy Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 02/12/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 742/2022/TLPT-HS ngày 14 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử phúc thẩm số 774/2022/QĐXXPT-HS ngày 18/11/2022 đối với bị cáo Lê Hồng P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2022/HSST ngày 24/08/2022 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
- Bị cáo có kháng cáo: LÊ HỒNG P, sinh năm: 1994; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Số X, LT, phường ĐB, quận BĐ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố là Lê Quang T (đã chết); Mẹ là Đỗ Thu H; Vợ là Nguyễn Thị D; Bị cáo có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Bị hại không kháng cáo: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số X, ngách Y, ĐC, phường ĐC, quận BĐ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Pên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 27/2/2022, Lê Hồng P đến ở nhờ nhà bạn là anh Vũ Ngọc HL, địa chỉ: số X ngách Y ĐC, phường ĐC, quận BĐ, thành phố Hà Nội và được mẹ của anh L là bà Đỗ Thị H đồng ý. Ngày 8/3/2022, bạn gái của anh L là chị Trần Thị Thùy T có mua và tặng cho bà Đỗ Thị H 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng đã qua sử dụng khi đó P cũng có mặt và biết sự việc. Sau đó, bà H mang điện thoại cất ở trên nóc tủ trong phòng ngủ của mình. Khoảng 10h ngày 10/3/2022, P nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại của bà H để bán lấy tiền tiêu xài nên đã vào phòng ngủ của bà H lấy chiếc điện thoại Iphone 11 trên nóc tủ. Sau đó, P đi bộ ra ngã tư Ngọc Hà – Đội Cấn thuê xe ôm của anh Phạm Cao C, sinh năm 1972, trú tại: Số X VC, phường VC, quận ĐĐ, thành phố Hà Nội đi đến số 44A Nguyễn Chí Thanh bán chiếc điện thoại trên cho một người phụ nữ và một người đàn ông tại cửa hàng này với giá 2.000.000 đồng. Sau khi bán điện thoại, P quay ra chỗ anh C đang chở để đi xe ôm của anh C về quán game tại ngõ 285 ĐC và ở tại đây, không quay lại nhà anh L nữa. Đến 18h30 phút ngày 10/3/2022, bà H không thấy điện thoại của mình đâu nên đã nghi ngờ P lấy điện thoại. Anh Vũ Ngọc HL sau khi biết sự việc đã cùng với bạn mình đi tìm P, đến khoảng 23h30 phút ngày 12/3/2022 thì tìm được P tại quán điện tử và chở P về nhà. Tại đây, bà Đỗ Thị H hỏi P về việc có lấy trộm điện thoại của mình không thì P thừa nhận là có lấy điện thoại của bà H sau đó mang đi bán tại cửa hàng điện thoại địa chỉ 44A Nguyễn Chí Thanh với giá 2.000.000 đồng. P hứa sẽ về xin tiền gia đình đề chuộc điện thoại để trả cho bà H. Nhưng đến ngày 14/3/2022, P không chuộc được điện thoại về để trả cho bà Đỗ Thị H nên bà H đã đưa P đến Công an phường Đội Cấn trình báo sự việc.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Lê Hồng P khai nhận toàn bộ sự việc như đã nêu trên. Vật chứng: 01 điện thoại di động Iphone 11 màu trắng (không thu giữ được). Theo kết luận định giá tài sản số 25 ngày 28/4/2022: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng đã qua sử dụng có giá trị 8.000.000 đồng.
Đối với người phụ nữ và người đàn ông tại cửa hàng số 44A Nguyễn Chí Thanh đã mua điện thoại của P. Cơ quan điều tra đã nhiều lần tiến hành lấy lời khai nhưng không gặp, không lấy được lời khai. Cơ quan điều tra đã lập biên bản và ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan số 02 ngày 21/7/2022 để tiếp tục điều tra xác minh làm rõ.
Đối với ông Phạm Cao C là người chở P đi bán điện thoại nhưng ông C không biết việc P trộm cắp điện thoại nên không đề cập xử lý.
Về bồi thường dân sự: Ngày 11/7/2022, bị cáo Lê Hồng P đã bồi thường cho bà Đỗ Thị H 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng, bà H đã có ý kiến xin rút đơn tố cáo đối với P và không yêu cầu về bồi thường dân sự gì khác.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2022/HSST ngày 24/08/2022 của Tòa án Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hồng P 06 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Ngoài ra bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 07/09/2022, bị cáo Lê Hồng P có đơn kháng cáo Bản án số 143/2022/HSST ngày 24/08/2022 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại Phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo có đơn kháng cáo là hợp lệ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các Điều 331; 334 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo về hình thức. Về nội dung: Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo; xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, sửa Bản án sơ thẩm. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Hồng P 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 12 tháng và giao bị cáo cho Chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
- Bị cáo trình bày: Công nhận bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, tại Pên toà phúc thẩm bị cáo xin được hưởng án treo cải tạo ngoài xã hội, để có cơ hội chăm sóc gia đình. Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, đây là lần đầu phạm tội, bị cáo đã bồi thường cho bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại Pên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các Cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo Lê Hồng P có kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận về hình thức.
[2] Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:
- Về tội danh: Tại Phiên tòa bị cáo công nhận bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ kết quả tranh tụng tại Phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ ngày 10/3/2022, tại nhà số X ngách Y ĐC, phường ĐC, quận BĐ, thành phố Hà Nội, bị cáo Lê Hồng P đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone 11 màu trắng đã qua sử dụng trị giá 8.000.000 đồng của bà Đỗ Thị H mục đích bán để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2022/HSST ngày 24/08/2022 của Tòa án Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự xét xử bị cáo Lê Hồng P về “Tội trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về hình phạt và xét kháng cáo của bị cáo: Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xử phạt bị cáo Lê Hồng P 06 (Sáu) tháng tù là phù hợp.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, tại Phiên toà phúc thẩm bị cáo xin được hưởng án treo. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại. Bị hại có đơn về việc đã nhận lại tài sản và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngày 29/11/2022 bác của bị cáo gửi đơn có xác nhận của Uỷ ban nhân dân phường Điện Biên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội về việc bác của bị cáo Lê Hồng P là liệt sỹ, gia đình được hưởng chế độ gia đình liệt sỹ có công với cách mạng. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; đồng thời xem xét ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, nên chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện của chế định án treo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không pH chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa quyết định của bản án sơ thẩm số 143/2022/HS-ST ngày 24/08/2022 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, cụ thể:
Tuyên bố bị cáo Lê Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hồng P 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 02/12/2022.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường ĐB, quận BĐ, thành phố Hà Nội quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách của án treo người được hưởng án treo pH thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo pH chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo pH nộp án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không pH chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Hà Nội; - CQCSĐT quận Ba Đình; - VKSND quận Ba Đình; - TAND quận Ba Đình; - CQTHADS quận Ba Đình; - UBND P. ĐB, Q.BĐ, TP Hà Nội; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa Pên tòa Trần Đức Hiếu |