vanban.org

Bản án 101/HSST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Tuyên án 27/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lầu Pó L 01 (một) năm tù.

Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 14 giờ ngày 12/9/2022 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lầu Pó L tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lầu Pó L 01 (một) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 101/2022/HS-ST
Ngày: 27 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN

BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lường Văn Dũng và ông Bùi Như Lữ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Ngân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Ôn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2022/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Lầu Pó L (tên gọi khác: không); sinh năm: 1968 tại xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nông nghiệp; trình độ học vấn: không học; con ông: Lầu A M ( đã chết) và bà Thào Thị D, sinh năm 1944; vợ: Vừ Thị K ( đã chết) và có 07 người con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị tạm giữ từ ngày 10/6/2022 đến 19/6/2022 tạm giam cho đến nay. Có mặt.

- Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Vàng A N, sinh năm 1998, trú tại tổ 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ ngày 10/6/2022, Lầu Pó L nhờ con trai Lầu A T điều khiển xe mô tô của gia đình chở L từ bản H, xã P đến bản C, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên để bán nấm. Sau khi bán nấm được 65.000đ, Lầu Pó L bảo Lầu A T đợi mình ở bản C, còn L một mình đi vào bản K, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên tìm mua ma túy sử dụng. Đến bản K, Lầu Pó L vào nhà của một người đàn ông dân tộc Mông tên Ly A P hỏi mua được 01 gói Heroine giá 50.000đ, L bẻ một ít sử dụng tại nhà P sau đó cất giấu số ma túy còn lại trong người quay lại chỗ Lầu A T đợi và bảo T chở về nhà. Trên đường về nhà gặp Lầu A D ở cùng bản xin đi nhờ xe. Đến 11 giờ 10 phút cùng ngày khi Lầu Pó L, Lầu A T và Lầu A D về đến bản C, xã P thì bị tổ công tác Công an xã P và Công an huyện Đ phối hợp kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ của Lầu Pó L 01 gói chất bột trắng nghi là Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng vật chứng, lấy mẫu giám định ngày 10/6/2022 và Kết luận giám định số 824/KL-KTHS ngày 18/6/2022 kết luận toàn bộ số chất bột trắng thu giữ của Lầu Pó L có khối lượng 0,17 gam, mẫu trích 0,09 gam gửi giám định là chất ma túy loại Herroine.

Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã điều tra làm rõ Lầu A T và Lầu A D mặc dầu đi cùng bị cáo L nhưng không biết bị cáo Lầu Pó L mua ma túy cất giấu trong người nên không xử lý; còn Ly A P, trú tại bản K, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên hiện tại vắng mặt tại địa phương nên chưa điều tra làm rõ được.

Tại Cáo trạng số 72/CT-VKSĐBĐ ngày 12/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Lầu Pó L về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lầu Pó L về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lầu Pó L từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Về vật chứng vụ án áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,08 gam Heroine còn lại sau giám định. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét hành vi của bị cáo bị truy tố thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lầu Pó L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, bị cáo khai nhận vào ngày 10/6/2022 bị cáo đã đi mua được một gói Heroine sử dụng một ít, số còn lại cất giấu trong người thì bị bắt quả tang, gói Heroine có khối lượng 0,17 gam. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 10/6/2022; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định; kết luận giám định, các bản cung, bản kết luận điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ nhận định, bị cáo Lầu Pó L là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ sự nghiêm cấm của pháp luật về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tuy nhiên bị cáo vẫn cố ý mua tàng trữ 0,17 gam Heroine về sử dụng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của nhà nước gây mất ổn định, trật tự xã hội nên đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. nghiện chất ma túy nên mua tàng trữ sử dụng dẫn đến phạm tội như ngày hôm nay

Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phạm vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận phân tích đề xuất về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng.

. Về hình phạt:

Hình phạt chính: Như phân tích tại các mục [1] và [2], Hội đồng xét xử cần chấp nhận mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình, xã hộị và phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự nhưng xét thấy thu nhập của bị cáo chỉ dựa vào làm nông nghiệp, kinh tế khó khăn, thuộc hộ nghèo lại nghiện chất ma túy, do vậy Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp như đại diện Viện kiểm sát đã đề xuất.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về vật chứng vụ án: Vật chứng thu giữ của bị cáo Lầu Pó L là 0,17 gam Heroine đã trích giám định hết 0,09gam còn 0,08 gam là chất thuộc Nhà nước cấm mua bán, lưu hành, cần tịch thu và tiêu hủy toàn bộ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm vì là người dân tộc Mông sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã điều tra làm rõ Lầu A T và Lầu A D không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Lầu Pó L; còn Ly A P, trú tại bản K, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên hiện tại vắng mặt tại địa phương nên chưa điều tra làm rõ được. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lầu Pó L ( tên gọi khác: không) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lầu Pó L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/6/2022.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,08 gam Heroine ( đã trừ giám định).

Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 14 giờ ngày 12/9/2022 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lầu Pó L.

4. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 27 tháng 9 năm 2022.

Cỡ chữ