vanban.org

Bản án 101/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 07/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình Pht:

Tuyên bố bị cáo Vàng Sông L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử Pht bị cáo Vàng Sông L 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình Pht tù tính từ ngày 01/12/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng Sông L - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình Pht:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2026/HS-ST
Ngày 07 - 4 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Thôn; bà Lường Thị Khyển

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thuỳ Linh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2026/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 03 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng Sông L, sinh năm 1969, tại xã Huổi M, tỉnh Sơn La;

Nơi cư trú: Bản Túp Ph, xã Huổi M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Vàng Nhịa D (đã chết) và bà Giàng Thị D; bị cáo có vợ con là Giàng Thị S và 05 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2025 cho đến nay; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lường Thị Tươi – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Đoàn luật sư tỉnh Sơn La; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 35 phút ngày 01/12/2025 Tổ công tác Công an xã Huổi M, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản Túp Ph, xã Huổi M, tỉnh Sơn La phát hiện M người đàn ông đang đi bộ từ hướng bản Cang Cói về phía bản Túp Ph cùng ở xã Huổi M, tỉnh Sơn La có biểu hiện nghi vấn Phm tội về ma tuý, tổ công tác tiến hành kiểm tra người đàn ông khai nhận là Vàng Sông L, sinh năm 1969, nơi cư trú: bản Túp Ph, xã Huổi M, tỉnh Sơn La, quá trình làm việc tổ công tác yêu cầu L nếu có đồ vật, tài liệu vi Phm pháp luật thì mang giao nộp, L đã lấy từ trong túi áo ngực bên trái đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột liên kết màu trắng (L khai nhận là Heroine), tổ công tác lập biên bản bắt người Phm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 02/12/2025 tại Tổ Cơ quan CSĐT (tại Công an xã Sông Mã, Công an tỉnh Sơn La) tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng vật chứng thu giữ nghi là ma túy, kết quả: Chất bột liên kết màu trắng có tổng khối lượng 0,21 gam, trích hết 0,21 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu L.

Tại Kết luận giám định số 1445/KL-KTHS ngày 05/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

- Mẫu ký hiệu L gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,21 gam.

- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,21 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

Quá trình điều tra bị cáo Vàng Sông L khai nhận hành vi Phm tội như sau: Khoảng 11 giờ ngày 01/12/2025 Vàng Sông L đi bộ từ nhà ở bản Túp Ph đến bản Khua Họ cùng ở xã Huổi M, tỉnh Sơn La để tìm mua ma tuý sử dụng, khi đi L mang theo số tiền 50.000 đồng (là tiền do lao động tiết kiệm mà có), khi L đến địa phận bản Khua Họ thì gặp M người đàn ông không quen biết, L đi đến hỏi mua Heroine, người đàn ông bảo có nên L lấy số tiền 50.000 đồng đưa cho người này, người đàn ông nhận tiền rồi đi vào phía lề đường M lúc sau quay lại đưa cho L 01 gói nilon màu xanh, L nhận gói ma tuý cất giấu vào trong túi áo ngực bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi L đi đến địa phận bản Túp Ph, xã Huổi M thì bị Tổ công tác Công an xã Huổi M kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Cáo trạng số 01/CT-VKS-KV3 ngày 24 tháng 02 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La để xét xử bị cáo Vàng Sông L về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa, bị cáo Vàng Sông L đã khai nhận hành vi Phm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Vàng Sông L Phm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Xử Pht bị cáo Vàng Sông L từ 03 năm 04 tháng đến 03 năm 08 tháng tù;

Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình Pht bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu để tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh.

Về án phí: Bị cáo Vàng Sông L là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Vàng Sông L không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình Pht.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Vàng Sông L: Bà Lường Thị Tươi – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Đoàn luật sư tỉnh Sơn La: Hành vi của bị cáo Vàng Sông L đã thực hiện là vi Phm pháp luật, việc khởi tố, truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo Vàng Sông L không có trình độ văn hóa, nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Sau khi hành vi Phm tội của mình bị phát hiện, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đinh tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025). Đề nghị xử Pht bị cáo Vàng Sông L mức án thấp nhất mức đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo, không có ý kiến gì bổ sung thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người Phm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 01/12/2025 bị cáo Vàng Sông L đã có hành vi tàng trữ 0,21 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La truy tố bị cáo Vàng Sông L về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); phát biểu luận tội của của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị mức xử Pht tù giam đối với bị cáo về tội danh nêu trên là phù hợp, có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Vàng Sông L thực hiện đã Phm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội Phm và hình Pht được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025), có khung hình Pht tù từ 03 năm đến 05 năm.

Về tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi Phm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi Phm điều cấm của pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, vi Phm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình Pht chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi Phm tội của bị cáo; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ nhằm mục đích sử dụng; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình Pht tù giam đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong M thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa tội Phm.

Về hình Pht bổ sung là Pht tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình Pht bổ sung là Pht tiền đối với bị cáo.

Về các vấn đề có liên quan: Đối với người đàn ông không rõ tên tuổi và địa chỉ là người đã bán ma tuý cho bị cáo tại khu vực bản Khua Họ, xã Huổi M, tỉnh Sơn La vào ngày 01/12/2025. Do không xác định được họ tên đầy đủ và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Vật chứng của vụ án: Đối với 01 mảnh nilon màu xanh là vật không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Vàng Sông L là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình Pht:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Vàng Sông L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử Pht bị cáo Vàng Sông L 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình Pht tù tính từ ngày 01/12/2025.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu để tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 01/QĐ-VKS ngày 24/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 09 giờ 10 phút ngày 27 tháng 02 năm 2026 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Sơn La.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Bị cáo Vàng Sông L được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 07/4/2026).

Cỡ chữ