vanban.org

Bản án 101/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 21/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nông Thanh H phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Thanh H 03 năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. 3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 phong bì thư còn n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Thanh H - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nông Thanh H phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2026/HS-ST
Ngày 21 - 5 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Quốc Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Tâm và ông Tăng Quốc Hiệu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Ma Kim Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 72/2026/TLST-HS ngày 17/4/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2026/QĐXXST-HS ngày 07/5/2026 đối với:

Bị cáo Nông Thanh H, tên gọi khác: không có; Sinh ngày 26 tháng 6 năm 1990 tại xã T, tỉnh Cao Bằng.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm B, xã T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nông Văn T, sinh năm 1962 và bà Hoàng Thị N, sinh năm 1961; Vợ: Nông Thị H1, sinh năm 1997; Con: Bị cáo có hai con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2025; Tiền án: không.

Tiền sự: ngày 15/8/2025, bị Công an xã T, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, mức phạt 4.500.000 đồng. Ngày 06/10/2025, Nông Thanh H đã nộp phạt.

Về nhân thân:

- Ngày 29/7/2010, bị cáo bị Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác;

- Ngày 09/11/2011, bị cáo bị Công an Phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác;

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú kể ngày 30/9/2025 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 26/9/2025, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tại tổ dân phố F, xã T, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Công an xã T, tỉnh Cao Bằng phát hiện Nông Thanh H, sinh ngày 26/6/1990, trú tại xóm B, xã T, tỉnh Cao Bằng có biểu hiện nghi vấn đánh bạc trên không gian mạng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản làm việc, tạm giữ đối với Nông Thanh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 355324089940923 gắn sim số 0944.616.189. Nông Thanh H khai sử dụng chiếc điện thoại di động trên để thực hiện hành vi đánh bạc trên không gian mạng tại trang web 68 Game Bài.

Quá trình điều tra, xác định được: Nông Thanh H sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, số IMEI: 355324089940923, gắn sim số 0944.616.189 để thực hiện hành vi đánh bạc trên mạng. Ngày 12/9/2025, Nông Thanh H sử dụng điện thoại di động trên, kết nối internet đăng nhập vào trang web tên “68 Game Bài” có địa chỉ “68gbvn25.shop” đăng nhập tài khoản “0944616189”, ID “20939649” mật khẩu “Thuhong160597@!” liên kết với tài khoản Ngân hàng A số tài khoản 8306205064529 mang tên NONG THANH HAI và tài khoản ngân hàng L mang tên NONG THANH HAI có số 053673130001 để tham gia đánh bạc bằng hình thức cá cược vào các trò chơi “Tài Xỉu MD5”, “Mini Tài Xỉu”, “Xóc Đĩa”. Cách thức nạp, rút tiền sử dụng hình thức nạp tiền trực tuyến thông qua quét mã QR ngân hàng (A). Sau khi chuyển khoản thành công, hệ thống tự động cộng tiền vào tài khoản trò chơi.

Các trò chơi “Tài xỉu MD5”, “Mini Tài xỉu” và “Xóc đĩa” là hình thức đánh bạc cá cược được - thua bằng tiền. Đối với “T1 xỉu”, người chơi dự đoán tổng điểm của 03 xúc xắc là “Tài” hoặc “Xỉu”; nếu thắng được trả thưởng theo tỷ lệ 1 ăn 1,95, nếu thua mất toàn bộ tiền cược. Đối với “Xóc đĩa”, người chơi đặt cược vào “Lẻ” hoặc “Chẵn”; kết quả được xác định sau khi mở đĩa, nếu thắng được trả thưởng theo tỷ lệ tương ứng (1 ăn 4; 1 ăn 1,95; hoặc 1 ăn 15), nếu thua mất toàn bộ tiền đã đặt cược.

Từ 15:00:38 đến 17:12:51 ngày 12/9/2025, Nông Thanh H nạp vào tài khoản đánh bạc 07 lần, tổng số tiền 16.000.000 đồng, liên tục đặt cược 100 lần, gồm: 65 lần đối với trò chơi “Tài Xỉu MD5”, 31 lần đối với trò chơi “Mini Tài X” và 04 lần đối với trò chơi “Xóc Đĩa”; rút về tài khoản Ngân hàng 04 lần với tổng số 15.656.968 đồng. Hành vi cụ thể như sau:

Nạp lần 1: vào hồi 14 giờ 59 phút 38 giây, nạp số tiền 1.000.000 đồng vào tài khoản trò chơi, số dư là 1.000.000 đồng. Từ 15 giờ 00 phút 38 giây đến 15 giờ 24 phút 07 giây, H thực hiện tổng cộng 37 lần đặt cược, gồm 25 lần cược trò chơi “Tài Xỉu MD5” và 12 lần cược trò chơi “Mini Tài X”. Đến 15 giờ 17 phút 50 giây, số dư trong tài khoản trò chơi là 6.134.150 đồng. Sau đó, vào lúc 15 giờ 20 phút, H đã rút ra 5.000.000 đồng về tài khoản ngân hàng A mang tên Nông Thanh H. Sau khi rút tiền, H tiếp tục tham gia chơi đến 15 giờ 24 phút 07 giây, số dư còn lại trong tài khoản trò chơi là 32.168 đồng.

Nạp lần 2: vào hồi 16 giờ 22 phút 40 giây, H nạp số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản trò chơi, số dư là 2.032.168 đồng. Từ 16 giờ 23 phút 26 giây đến 16 giờ 29 phút 43 giây, H thực hiện tổng cộng 12 lần đặt cược, gồm 08 lần cược trò chơi “Tài Xỉu MD5”, 03 lần cược trò chơi “Mini Tài X” và 01 lần cược trò chơi “Xóc Đĩa”. Đến 16 giờ 29 phút 43 giây, số dư trong tài khoản trò chơi là 510.018 đồng. Sau đó, vào hồi 16 giờ 31 phút, H rút toàn bộ số tiền 510.018 đồng về tài khoản ngân hàng A mang tên Nông Thanh H, số dư tài khoản trò chơi còn 0 đồng.

Nạp lần 3: vào hồi 16 giờ 33 phút 24 giây, H nạp số tiền 2.500.000 đồng vào tài khoản trò chơi, số dư là 2.500.000 đồng. Từ 16 giờ 34 phút 13 giây đến 16 giờ 52 phút 35 giây, H thực hiện tổng cộng 29 lần đặt cược, gồm 21 lần cược trò chơi “Tài Xỉu MD5” và 08 lần cược trò chơi “Mini Tài X”. Đến 16 giờ 50 phút 23 giây, số dư trong tài khoản trò chơi là 13.107.450 đồng. Vào hồi 16 giờ 52 phút, rút 10.000.000 đồng. Số dư tài khoản trò chơi còn 0 đồng.

Nạp lần 4: tổng nạp 04 lần, cụ thể: vào hồi 16 giờ 53 phút 36 giây, nạp thành công 3.000.000 đồng; 16 giờ 55 phút 49 giây, nạp 2.000.000 đồng; 17 giờ 04 phút 11 giây, nạp 3.000.000 đồng; 17 giờ 06 phút 32 giây, nạp 2.500.000 đồng vào tài khoản trò chơi. Từ 16 giờ 54 phút 36 giây đến 17 giờ 12 phút 51 giây, H thực hiện tổng cộng 22 lần đặt cược, gồm 11 lần cược trò chơi “Tài Xỉu MD5”, 08 lần cược trò chơi “Mini Tài X” và 03 lần cược trò chơi “Xóc Đĩa”. Đến 17 giờ 12 phút 51 giây, số dư trong tài khoản trò chơi còn 146.950 đồng. Sau đó, vào lúc 17 giờ 14 phút, H rút toàn bộ số tiền 146.950 đồng về tài khoản ngân hàng A mang tên Nông Thanh H.

Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKSKV3 ngày 17 tháng 4 năm 2026, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 đã truy tố Nông Thanh H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận Cáo trạng phản ánh đúng diễn biến hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến gì khiếu nại trong quá trình điều tra. Mục đích đánh bạc là thắng cược, hưởng lợi từ hành vi đánh bạc. Bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 rút đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Các nội dung khác vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nông Thanh H phạm tội “Đánh bạc”.

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Thanh H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về số tiền phải truy thu sung quỹ Nhà nước: Truy thu đối với bị cáo để sung quỹ Nhà nước số tiền 15.656.968 đồng là tiền bị cáo được hưởng lợi từ hành vi phạm tội. Bị cáo đã nộp vào cơ quan thi hành án dân sự số tiền 10.000.000 đồng, còn phải truy thu thêm đối với bị cáo số tiền 5.656.968 đồng.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 tạm giữ đối với Nông Thanh H, ngày 26/9/2025.

- Về án phí: Bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí và đã có đơn xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Khi nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản kiểm tra điện thoại, tài liệu sao kê lịch sử tham gia đánh bạc trên mạng, tài liệu sao kê giao dịch chuyển tiền từ tài khoản đánh bạc vào tài khoản ngân hàng và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có cơ sở để kết luận: Nông Thanh H, sinh năm 1990, trú tại xóm B, xã T, tỉnh Cao Bằng, ngày 12/9/2025, sử dụng điện thoại di động Iphone 7 kết nối Internet truy cập vào trang web tên “68 Game Bài” có địa chỉ “68gbvn25.shop” lập tài khoản “0944616189”, ID “20939649” mật khẩu “Thuhong160597@!” liên kết với 02 tài khoản Ngân hàng A số tài khoản 8306205064529; tài khoản ngân hàng L 053673130001 đều mang tên NONG THANH HAI để thực hiện hành vi đánh bạc đánh bạc bằng hình thức cá cược vào các trò chơi “Tài Xỉu MD5”, “Mini Tài Xỉu”, “Xóc Đĩa”.

Từ 15:00:38 đến 17:12:51 ngày 12/9/2025, Nông Thanh H nạp vào tài khoản đánh bạc 07 lần, tổng số tiền 16.000.000 đồng, liên tục đặt cược 100 lần, gồm: 65 lần đối với trò chơi “Tài Xỉu MD5”, 31 lần đối với trò chơi “Mini Tài X” và 04 lần đối với trò chơi “Xóc Đĩa”; rút về tài khoản Ngân hàng 04 lần với tổng số 15.656.968 đồng.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích phạm tội nhằm kiếm tiền bất hợp pháp từ hành vi đánh bạc trên không gian mạng. Bị cáo sử dụng điện thoại di động kết nối internet để đánh bạc, đây là tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, từng nhiều lần bị cơ quan Công an xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, bị cáo có nhân thân xấu nên cần phải xử nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm răn đe giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.

Trước ngày mở phiên toà, bị cáo có cung cấp các tài liệu thể hiện bị cáo có ông ngoại Hoàng Văn Q được tặng huy chương chiến thắng hạng nhất; bố của bị cáo được tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp nông nghiệp và phát triển nông thôn; mẹ bị cáo được tặng huy chương vì sự nghiệp giáo dục. Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 3 của Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ để áp dụng đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên rút đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng, khách thể của tội “Đánh bạc” là hành vi xâm phạm đến trật tự công cộng và an toàn xã hội; trong vụ án này không có bị hại nên không xem xét đến việc khắc phục bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Việc bị cáo đã nộp 10.000.000 đồng tại Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng không được coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.

Về vật chứng vụ án: 01 phong bì thư còn nguyên niêm phong, mặt trước ghi: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 tạm giữ đối với Nông Thanh H, ngày 26/9/2025”. Đây là chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

Về số tiền phải truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước do bị cáo sử dụng vào hành vi đánh bạc: Trong ngày 12/9/2025, bị cáo Nông Thanh H nạp vào tài khoản đánh bạc như sau:

Nạp lần 1: Nạp số tiền 1.000.000 đồng, rút về tài khoản ngân hàng số tiền 5.000.000 đồng. Số tiền cần phải truy thu là 5.000.000 đồng.

Nạp lần 2: Nạp số tiền 2.000.000 đồng, số dư là 2.032.168 đồng; rút về tài khoản ngân hàng số tiền 510.018 đồng. Số tiền cần phải truy thu là 2.542.186 đồng.

Nạp lần 3: Nạp số tiền 2.500.000 đồng, rút về tài khoản ngân hàng số tiền 10.000.000 đồng. Số tiền cần phải truy thu là 10.000.000 đồng.

Nạp lần 4: Tổng nạp 04 lần với số tiền 10.500.000 đồng, rút về tài khoản ngân hàng số tiền 146.950 đồng. Số tiền cần phải truy thu là 10.646.950 đồng.

Tổng số tiền phải truy thu đối với bị cáo để nộp vào ngân sách nhà nước là 28.189.136 đồng.

Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 10.000.000 đồng tại Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo biên lai số 0000003 ngày 07/01/2026. Còn phải truy thu đối với bị cáo số tiền 18.189.136 đồng.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có nghề nghiệp là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Các nhận định khác: Đối với ông Nông Văn T là bố đẻ và Nông Thị H1 là vợ của Nông Thanh H, Cơ quan điều tra đã làm rõ việc chuyển tiền qua lại giữa tài khoản Ngân hàng của 02 người này với tài khoản ngân hàng của Nông Thanh H không liên quan đến hành vi phạm tội đánh bạc của H. Do đó, Cơ quan điều tra không xử lý trong vụ án này là đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với 07 tài khoản ngân hàng mà bị cáo đã chuyển tiền vào để đánh bạc, Cơ quan điều tra đã tiến hành Ủy thác điều tra và đã có thông tin của các chủ tài khoản, kèm theo sao kê ngân hàng. Tuy nhiên chưa đủ căn cứ xác định những tài khoản này có liên quan đến hành vi đánh bạc của H. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh điều tra, nếu đủ căn cứ sẽ xử lý ở một vụ án khác. [8]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đã có đơn xin miễn án phí là trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 321, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nông Thanh H phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Thanh H 03 năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. 3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 phong bì thư còn nguyên niêm phong, mặt trước ghi: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 tạm giữ đối với Nông Thanh H, ngày 26/9/2025”. Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Cao Bằng theo biên bản giao nhận số 83 ngày 23/4/2026.

Về số tiền phải truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước: Truy thu đối với bị cáo Nông Thanh H số tiền 28.189.136 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 10.000.000 đồng tại Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo biên lai số 0000003 ngày 07/01/2026. Còn phải truy thu thêm đối với bị cáo số tiền 18.189.136 đồng.

4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nông Thanh H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ