vanban.org

Bản án 101/2025/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 04/04/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay.

Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán. Buộc Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Công ty cổ phần sawad tiền có ngay - Nhàn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2025/DS-ST
Ngày 04 – 4 – 2025
V/v tranh chấp HĐ cầm cố + HĐ
thuê tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Út

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Công Minh

Ông Huỳnh Hoàng Khởi

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 833/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng thuê tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2025/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay.

Địa chỉ trụ sở: Số 128, đường Nguyễn Du, phường Bến Thủy, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Đại diện theo pháp luật: Ông KANOKWATPAISAL NAPAT – Giám đốc

Người đại diện hợp pháp: Ông Hồ Ngọc Quận, sinh năm 1990 – Nhân viên Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay. Địa chỉ: Số 220, đường 3/2, phường 5, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (Theo giấy ủy quyền số 105/2024/UQ-SVN ngày 16/11/2024) (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Nhàn, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã An Xuyên, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Hồ Ngọc Quận là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày như sau:

Ngày 10/7/2024 ông Nguyễn Thanh Nhàn có ký với Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay - Chi nhánh Cà Mau (gọi tắt là Công ty) hợp đồng cầm cố tài sản số CMM240701012NA24X. Tài sản cầm cố là chiếc xe ô tô hiệu Vision, biển số 69AA-169.73, giấy chứng nhận đăng ký xe số 007353 do Công an tỉnh Cà Mau cấp ngày 21/6/2024 đứng tên Nguyễn Thanh Nhàn, số tiền nhận cầm cố là 18.031.914 đồng, thời hạn cầm cố 12 tháng, lãi suất 1,1%/tháng, phí quản lý hồ sơ cố định bằng 0.5% số tiền cầm cố/tháng. Lãi suất quá hạn bằng 4% số tiền quá hạn thanh toán /tháng tính từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn; phí mượn xe là 2.5% số tiền cầm cố/tháng (trễ hạn 5.4%); Phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm; Phí tất toán hợp đồng trước hạn là 7% nợ gốc chưa thanh toán; Chi phí tố tụng bằng 10% trên dư nợ gốc, lãi, phí quản lý hồ sơ cố định chưa thanh toán.

Để bảo đảm cho hợp đồng cầm cố ông Nhàn đã thế chấp tài sản bảo đảm là chiếc xe ô tô hiệu Vision, biển số 69AA-169.73, giấy chứng nhận đăng ký xe số 007353 do Công an tỉnh Cà Mau cấp ngày 21/6/2024 đứng tên Nguyễn Thanh Nhàn. Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm trên hệ thống trực tuyến của cục đăng ký Quốc gia số đăng ký giao dịch 1559114943 wed https://dktructuyen.moj.gov.vn/.

Theo hợp đồng cầm cố đã ký thì Công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền cầm cố cho ông Nhàn nhận. Do nhu cầu đi lại hàng ngày nên ông Nhàn yêu cầu Công ty cho thuê lại chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại nên cùng ngày 10/7/2024 ông Nhàn đã ký thỏa thuận thuê lại tài sản với Công ty, thời gian thuê xe từ ngày 10/7/2024 đến ngày 10/7/2025, giá thuê xe là 973.723 đồng/tháng. Hiện nay, ông Nhàn đang quản lý, sử dụng chiếc xe nêu trên. Bản gốc giấy tờ xe của ông Nhàn thì Công ty đang quản lý. Đến nay ông Nhàn chưa giao xe cho Công ty cũng như chưa thanh toán tiền thuê xe. Quá trình trả nợ ông Nhàn đã thanh toán cho Công ty 01 tháng nợ vào ngày 10/8/2024 với số tiền là 2.115.000 đồng và ngưng cho đến nay.

Nay Công ty khởi kiện yêu cầu ông Nhàn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 16.656.944 đồng và lãi trong hạn là 549.679 đồng, lãi quá hạn là 500.000 đồng, phí quản lý hồ sơ là 249.854 đồng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán 1.332.556 đồng, phí mượn xe là 2.921.170 đồng, phí tất toán hợp đồng trước thời hạn là 1.165.986 đồng, chi phí tố tụng. Tổng số tiền ông Nhàn phải thanh toán là 25.122.000 đồng. Ngoài ra, công ty còn yêu cầu ông Nhàn còn tiếp tục chịu khoản lãi và phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp ông Nhàn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm là chiếc xe ô tô hiệu Vision, biển số 69AA-169.73 đứng tên Nguyễn Thanh Nhàn để thu hồi nợ cho Công ty. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán thì ông Nhàn phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Công ty. Buộc ông Nhàn phải chịu các chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn rút và thay đổi các yêu cầu khởi kiện như: lãi quá hạn là 500.000 đồng, phí quản lý hồ sơ là 249.854 đồng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán 1.332.556 đồng, phí mượn xe là 2.921.170 đồng, phí tất toán hợp đồng trước thời hạn là 1.165.986 đồng, chi phí tố tụng. Công ty chỉ yêu cầu ông Nhàn trả số tiền gốc cầm cố xe còn nợ 16.656.944 đồng và tiền lãi trong hạn theo hợp đồng cầm cố đã ký tính từ ngày 10/9/2024 đến ngày 04/4/2025 là 6 tháng 24 ngày bằng số tiền 1.245.939 đồng và tiền thuê xe là 6.621.316 đồng. Tổng cộng ông Nhàn phải thanh toán cho Công ty là 24.524.199 đồng. Ngoài ra, công ty không yêu cầu gì khác.

Đối với ông Nguyễn Thanh Nhàn: Mặc dù ông Nhàn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông báo cho ông đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, được triệu tập đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng ông Nhàn vẫn vắng mặt không có lý do, không gởi văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng thuê tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định Điều 26 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn là ông Nguyễn Thanh Nhàn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện. Xét việc Công ty rút lại yêu cầu trên là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận đình chỉ đối với các yêu cầu như: lãi quá hạn là 500.000 đồng, phí quản lý hồ sơ là 249.854 đồng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán 1.332.556 đồng, phí mượn xe là 2.921.170 đồng, phí tất toán hợp đồng trước thời hạn là 1.165.986 đồng, chi phí tố tụng.

Về nội dung tranh chấp: Tại Hợp đồng cầm cố số CMM240701012NA24X ký kết vào ngày 10/7/2024 giữa Công ty Cổ phần Sawad Tiền Có Ngay với ông Nguyễn Thanh Nhàn thể hiện: Tài sản cầm cố là chiếc xe ô tô hiệu Vision, biển số 69AA-169.73, giấy chứng nhận đăng ký xe số 007353 do Công an tỉnh Cà Mau cấp ngày 21/6/2024 đứng tên Nguyễn Thanh Nhàn, số tiền nhận cầm cố là 16.656.944 đồng, thời hạn cầm cố là 12 tháng với mức lãi suất 1,1%/tháng. Đồng thời, cùng ngày hai bên có ký thỏa thuận thuê tài sản là chiếc xe cầm cố với thời hạn từ ngày 10/7/2024 đến ngày 10/7/2025, giá thuê là 973.723 đồng/tháng. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng ông Nhàn đã vi phạm nghĩa vụ theo các hợp đồng đã ký nên các bên phát sinh tranh chấp.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền gốc cầm cố xe là 16.656.944 đồng và tiền lãi trong hạn theo hợp đồng cầm cố đã ký tính từ ngày 10/9/2024 đến ngày 04/4/2025 là 6 tháng 24 ngày bằng số tiền 1.245.939 đồng và tiền thuê xe là 6.621.316 đồng. Tổng cộng ông Nhàn phải thanh toán cho Công ty là 24.524.199 đồng.

Nhận thấy hợp đồng cầm cố và hợp đồng thuê tài sản giữa các bên được ký trên tinh thần tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định pháp luật nên các bên phải có nghĩa vụ thực hiện. Quá trình giải quyết vụ án ông Nhàn không có văn bản ý kiến gởi Tòa án về các vấn đề nguyên đơn yêu cầu. Đồng thời, quá trình thực hiện, ông Nhàn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Tòa án căn cứ vào hợp đồng cầm cố và hợp đồng thuê tài sản đã ký giữa các bên và tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp, lời trình bày của nguyên đơn để xét xử vụ án. Xét lời trình bày của nguyên đơn là hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong vụ án nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán cho nguyên số tiền gốc và lãi tổng cộng là 24.524.199 đồng.

Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Thanh Nhàn bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe số 007353 do Công an tỉnh Cà Mau cấp ngày 21/6/2024 đứng tên Nguyễn Thanh Nhàn khi ông Nhàn đã thanh toán xong nợ cho Công ty.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên Công ty Cổ phần Sawad Tiền Có Ngay không phải chịu án phí, phần án phí dự nộp được nhận lại. Ông Nguyễn Thanh Nhàn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 238, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 309, 468 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay. Buộc ông Nguyễn Thanh Nhàn trả cho Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay số tiền tổng cộng là 24.524.199 đồng (Hai mươi bốn triệu, năm trăm hai mươi bốn nghìn, một trăm chín mươi chín đồng).

Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.

2.Buộc Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Thanh Nhàn bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe số 007353 do Công an tỉnh Cà Mau cấp ngày 21/6/2024 đứng tên Nguyễn Thanh Nhàn khi ông Nhàn đã thanh toán xong nợ.

3.Đình chỉ yêu cầu của Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay về việc yêu cầu ông Nguyễn Thanh Nhàn thanh toán lãi quá hạn, phí quản lý hồ sơ, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán, phí mượn xe, phí tất toán hợp đồng trước thời hạn, chi phí tố tụng, xử lý tài sản bảo đảm.

4.Án phí dân sự có giá ngạch: Ông Nguyễn Thanh Nhàn phải chịu án phí 1.226.000 đồng (chưa nộp). Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay không phải chịu án phí. Ngày 27/11/2024 Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay có nộp tạm ứng 628.000 đồng theo biên lai số 0009775 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được nhận lại khi án có hiệu lực.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ