vanban.org

Bản án 101/2024/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 20/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo NGUYỄN BÍCH H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo NGUYỄN BÍCH H 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo NGUYỄN BÍCH H phải chấp hành là 03 (Ba) năm 05 (Năm) tháng tù; thời hạn …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số: 101/2024/HS-ST - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo NGUYỄN BÍCH H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2024/HS-ST
Ngày: 20-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Trần Thế Dũng.

2. Ông Vũ Văn Thiệu.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu trực tuyến Phòng xét xử của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu Phòng xét xử trực tuyến của Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa trực tuyến công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 100/2024/TLST-HS, ngày 06 tháng 9 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN BÍCH H, sinh ngày 01 tháng 8 năm 1999, tại tỉnh Tuyên Quang.

Nơi đăng ký HKTT: Thôn 1 Việt Thành, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi ở: Tổ dân phố 10, phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Nguyễn Văn Ư (đã chết) và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978.

Anh, chị, em ruột: Không.

Chồng, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội số: 83/QĐ-XPVPHC, ngày 20/01/2017 của UBND huyện H, tỉnh Tuyên Quang, về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang - Có mặt.

Người làm chứng: Anh Mai Thanh T, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Thôn 03 Tân Yên, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

NGUYỄN BÍCH H, trú tại thôn 01 Việt Thành, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, là người có sử dụng ma tuý từ trước. Do H là bạn gái của La Tiến D ở tổ dân phố 07, phường T, thành phố T, hiện ở tại tổ dân phố 10, phường H, thành phố T (do D mượn nhà của người quen là ông Huỳnh Quang B để ở nhờ), nên khoảng tháng 10/2023 H chuyển đến sinh sống cùng D một nhà. Trưa ngày 11/3/2024, Mai Thanh T, trú tại thôn 3 Tân Yên, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (là em họ H) đến chơi. Khoảng 22 giờ cùng ngày, khi H, D, T đang ở nhà D thì có bạn là Hoàng Quang L, trú tại thôn 31, xã Thái Sơn, huyện H) gọi qua ứng dụng mạng xã hội Zalo cho H để nhờ H mua ma túy (loại Methamphetamine) và đồ ăn, sau đó gửi xe khách lên khu vực Km 27, đường Tuyên Quang - Hà Giang cho Linh, H đồng ý và bảo L chuyển tiền vào tài khoản Viettelpay số 9704229209729263 của H. L nhờ bạn là Trần Thị T - Trú tại thôn Thác Đất, xã Minh Dân, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, mà trước đó L và T rủ nhau mua ma túy về sử dụng chuyển 1.300.000 đồng vào tài khoản trên (trong đó L nhờ mua 1.100.000 đồng ma túy, còn lại mua đồ ăn và trả tiền cước xe) rồi L đưa cho Thảo 650.000 đồng tiền mặt. Do cũng có nhu cầu sử dụng ma túy, nên H gọi qua ứng dụng Zalo cho một người đàn ông theo H khai tên T (quen biết ngoài xã hội, không xác định được họ, tên đệm, địa chỉ) hỏi mua 2.200.000 đồng Methamphetamine (mua hộ L 1.100.000 đồng, H mua 1.100.000 đồng), T đồng ý và hẹn gặp H tại khu vực gầm cầu Tân Hà thuộc phường T, thành phố T. H mang theo 500.000 đồng rồi nhờ T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu PIAGIO, số loại Liberty có gắn biển số 22B1-958.62 của D chở H đến khu vực gầm cầu Tân Hà (Tùng không biết H đi mua ma túy). Khi gần đến nơi, H bảo T dừng xe đứng chờ còn H một mình đi bộ đến một quán nước gần đó (không xác định được tên quán, tên chủ quán) mua đồ ăn cho L hết 200.000 đồng và nhờ một người đàn ông (không xác định được họ tên, địa chỉ) cho H chuyển 1.900.000 đồng vào tài khoản của họ để đổi lấy tiền mặt. Sau đó, H đi bộ đến địa điểm đã hẹn, gặp và mua được của T 03 gói nhỏ Methamphetamine đều bọc ngoài bằng nilon màu trắng, trên mép có viền màu xanh với giá 2.200.000 đồng, T cho H thêm 03 viên nén Methamphetamine màu đỏ bọc ngoài bằng nilon màu trắng. H cầm số ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ ra chỗ T đang đứng chờ để đi về. Khi đến khu vực đầu đường Quốc lộ 37 thuộc phường T, thành phố T, H bảo T dừng xe vào quán nước gần đó chờ, H xuống xe một mình đi bộ cách đó một đoạn, lấy 01 gói Methamphetamine ra chia ½ gói cho vào 01 gói Methamphetamine khác để gửi cho L cùng đồ ăn qua xe ô tô khách (không xác định được biển số, người lái xe). Số ma túy còn lại, H gói lại như cũ, giấu trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ quay lại vị trí T đang chờ để T chở H về. Khi đến nhà D, T ra ngoài dọn dẹp đồ ăn còn H đi vào trong nhà, thấy D đang ngủ trên giường, H đổ một phần Methamphetamine trong 01 gói nhỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy (H chuẩn bị từ trước) để ra nền nhà phía đối diện giường, số còn lại H gói như cũ rồi cất giấu 02 gói Methamphetamine vào khe của khay nhựa để đồ dùng trong phòng và giấu 01 gói nhỏ chứa 03 viên nén Methamphetamine dưới gầm giường. Sau đó H sử dụng ma túy trong bộ dụng cụ bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Lúc này, thấy T đi vào nhà, H đã rủ T cùng sử dụng ma túy, T đồng ý và cùng H thay nhau sử dụng hết số ma túy trong bộ dụng cụ. Khoảng 01 giờ ngày 12/3/2024, khi H và T đang sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành kiểm tra, phát hiện. H đã tự giác giao nộp 01 túi nilon màu trắng chứa 03 viên nén màu đỏ giấu trong gầm giường và 02 gói nhỏ chứa chất tinh thể màu trắng đang giấu trong kệ để đồ trong phòng, H khai nhận là Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với NGUYỄN BÍCH H vào hồi 01 giờ 00 phút cùng ngày; thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.

Đối với Nguyễn Quang L, sau khi nhận được ma túy do H gửi, L và T mang ra chỗ vắng người gần đó chia mỗi người một nửa, sau đó L, T mỗi người tự mang phần ma túy về nhà riêng của mình và tự sử dụng hết bằng hình thức đốt hút vào cơ thể.

Kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy đối với NGUYỄN BÍCH H, Mai Thanh T, La Tiến D, Hoàng Quang L, Trần Thị T, đều (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể. D khai nhận tối ngày 10/3/2024 có sử dụng Methamphetamine cùng H tại nhà D do Dũng, H mua của người đàn ông tên T.

Bản Kết luận giám định số: 428/KL-KTHS, ngày 16/3/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất tinh thể màu trắng và 03 viên nén màu đỏ (thu giữ của NGUYỄN BÍCH H) là chất ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,536g (Không phẩy năm ba sáu gam).

Vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 0,355 gam Methamphetamine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định) cùng bao gói, trên các mép dán có chữ ký của NGUYỄN BÍCH H, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa, nắp chai màu vàng được cắm 01 ống thủy tinh màu trắng và 01 ống nhựa màu đen). Tạm giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen bên trong lắp 01 sim Viettel; tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu PIAGO Liberty, biển số 22B1-958.62 (đều đã qua sử dụng). Ngày 27/7/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho La Tiến D và trả lại biển số xe 22B1-958.62 cho chị Nguyễn Hải Huyền, là chủ sở hữu hợp pháp. Các vật chứng còn lại được chuyển theo hồ sơ chờ xử lý.

Tại Cơ quan điều tra, NGUYỄN BÍCH H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của H được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ; biên bản khám nghiệm hiện T, sơ đồ, bản ảnh hiện T; kết luận giám định; lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số: 102/CT-VKSTP, ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, đã truy tố NGUYỄN BÍCH H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo NGUYỄN BÍCH H tiếp tục khai nhận ngày 12/3/2024, tại nhà ở của La Tiến D thuộc tổ dân phố 10, phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo đã có hành vi tổ chức cho Mai Thanh T, trú tại thôn 3 Tân Yên, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, cùng thời gian, địa điểm trên, bị cáo còn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy 0,536g (Không phẩy năm ba sáu gam) Methamphetamine, mục đích để bản thân sử dụng. Trong quá trình điều tra, bị cáo có trực tiếp chứng kiến niêm phong và mở niêm phong phong bì ma túy đã thu giữ của bị cáo. Bị cáo không có ý kiến gì về kết quả giám định phong bì đựng ma túy đã thu giữ của bị cáo và không yêu cầu giám định lại. Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, đã truy tố bị cáo là đúng tội, không oan.

Người làm chứng anh Mai Thanh T trình bày tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai: Chiều ngày 11/03/2024 tôi đi xe khách từ nhà thuộc thôn 03, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, đến tổ 10 phường H, thành phố T chơi. Tại đây tôi vào nhà chị H và anh Dũng, đến khoảng 22 giờ cùng ngày chị H có bảo tôi lấy xe máy chở chị H đi có việc, tôi lấy xe chở chị H khi đến khu vực cầu Tân Hà thì chị H bảo tôi dừng xe ở đó, sau đó chị đi bộ đi đâu tôi không biết. Khoảng một lát sau thì chị H quay lại tôi bảo tôi chở chị đến khu vực đường Quốc lộ 37 hướng đi suối khoáng Mỹ Lâm, đến nơi chị H bảo tôi đợi ở quán nước ở gần vòng xuyến, tôi đợi ở đó 30 phút rồi chị H quay lại bảo tôi chở về nhà chị H và anh D ở tổ 10, phường H, thành phố T. Khi về đến nhà thì tôi ở ngoài dọn dẹp bát đũa, mâm cơm tôi sau đó quay vào nhà, lúc này anh D đang nằm trên gường ngủ còn chị H đang ngồi dưới nền nhà sử dụng ma túy bằng bộ dụng cụ chai nhựa, trên nắp trai có gắn ống hút và cóong thủy tinh có chứa ma túy đá. Sau đó chị H bảo tôi là mày hút thì tự đi mà châm, lúc đó tôi hiểu ý chị là rủ tôi sử dụng chất ma túy cùng chị H, nên tôi ngồi xuống và sử dụng ma túy, sau đó tôi và chị H lần lượt sử dụng ma túy đá. Khi sử dụng ma tuý được khoảng 10 phút thì có Tổ công tác đến yêu cầu kiểm tra và phát hiện ra tôi và chị H đang sử dụng ma túy, lúc đó tôi đã khai nhận toàn bộ sự việc và Tổ công tác đã lập biên bản sự việc. Sau đó tại Cơ quan điều tra, cho tôi xét nghiệm tìm chất ma túy thì có kết quả là dương tính. Tôi công nhận kết quả trên là đúng và nhận thức hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của tôi là vi phạm pháp luật.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo NGUYỄN BÍCH H và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Bị cáo NGUYỄN BÍCH H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 55 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo NGUYỄN BÍCH H từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo từ 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng tù đến 02 (Hai) năm 05 (Năm) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo NGUYỄN BÍCH H phải chấp hành hình phạt từ 03 (Ba) năm 05 (Năm) tháng tù đến 03 (Ba) năm 11 (Mười một) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 12/3/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo NGUYỄN BÍCH H không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định; không có tài sản riêng; việc bị cáo tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không nhằm mục đích vụ lợi, nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong chứa 0,355 gam Methamphetamine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định) cùng bao gói, trên các mép dán có chữ ký của NGUYỄN BÍCH H, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang.

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa, nắp chai màu vàng được cắm 01 ống thủy tinh màu trắng và 01 ống nhựa màu đen).

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen bên trong lắp 01 sim Viettel của NGUYỄN BÍCH H (do sử dụng vào việc phạm tội).

Bị cáo H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo H được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo H không có ý kiến tranh luận gì với nội dung luận tội của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo nói lời sau cùng là xin Hội đồng xét xử xử phạt mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên; của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên toà Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo H tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra; phù hợp với vật chứng đã thu giữ; Kết luận giám định, nên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 01 giờ 00 phút, ngày 12/3/2024, tại nhà ở của La Tiến D thuộc tổ dân phố 10, phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, NGUYỄN BÍCH H, trú tại thôn 1 Việt Thành, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, đã có hành vi tổ chức cho Mai Thanh T, trú tại thôn 3 Tân Yên, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, cùng thời gian, địa điểm trên, NGUYỄN BÍCH H còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,536g (Không phẩy năm ba sáu gam) ma tuý loại Methamphetamine, mục đích để bản thân sử dụng. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, truy tố NGUYỄN BÍCH H về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo H nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật; việc sử dụng ma tuý trái phép có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của bản thân và kinh tế gia đình. Ngoài ra, bị cáo còn tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo không những gây mất trật tự ở địa phương, mà còn góp phần làm gia tăng tệ nạn sử dụng trái phép chất ma tuý trên địa bàn thành phố T. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc T hợp nghiêm trọng do lỗi cố ý, nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh theo quy định của pháp luật và cần buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phục vụ công tác phòng chống tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy bị cáo H tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[6] Về vai trò của bị cáo: Trong vụ án này, bị cáo H một mình thực hiện hành vi phạm tội, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm với toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của mình đã gây ra.

[7] Về mức án: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, nên chấp nhận xử phạt bị cáo H mức án như Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, đề nghị tại phiên tòa là phù hợp và có căn cứ pháp luật.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo NGUYỄN BÍCH H không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định; không có tài sản riêng; việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không nhằm mục đích vụ lợi, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về biện pháp tư pháp: - Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 0,355 gam Methamphetamine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định) cùng bao gói, trên các mép dán có chữ ký của NGUYỄN BÍCH H, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang). 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa, nắp chai màu vàng được cắm 01 ống thủy tinh màu trắng và 01 ống nhựa màu đen). Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ trái phép và đồ vật không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen bên trong lắp 01 sim Viettel của NGUYỄN BÍCH H. Do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[10] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 10, 11, 12/3/2024 của NGUYỄN BÍCH H, Mai Thanh T, La Tiến D, Hoàng Quang L và Trần Thị T, Công an thành phố T đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 1637; 1638; 1639; 1640; 1641/QĐ-XPHC, cùng ngày 30/4/2024, hình thức phạt tiền là đúng quy định của pháp luật, nên không xem xét giải quyết.

[11] Đối với người đàn ông theo NGUYỄN BÍCH H khai tên T đã bán ma túy cho H vào tối ngày 10/3/2024 tại khu vực gần nhà nghỉ Sao Mộc thuộc xã Tràng Đà, thành phố T và tối 11/3/2024 tại khu vực gầm cầu Tân Hà thuộc phường T, thành phố T nhưng không xác định được họ tên đệm, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[12] Đối với Huỳnh Quang B (chủ sở hữu nhà tại tổ 10, phường H, thành phố T) là người cho D mượn nhà để ở, nhưng không biết D, H dùng làm địa điểm sử dụng trái phép chất ma túy và H tổ chức cho T sử dụng trái phép chất ma túy, nên không xem xét, xử lý.

[13] Đối với La Tiến D, do đang ngủ không biết việc H sử dụng nơi ở của mình làm địa điểm tổ chức cho T sử dụng trái phép chất ma túy, nên không xem xét xử lý.

[14] Đối với Mai Thanh T, là người được H nhờ điều khiển xe mô tô chở H đi mua ma túy và được H cung cấp ma túy cho để sử dụng. Quá trình điều tra xác định T không cùng H bàn bạc, không biết, không góp tiền cùng H mua ma túy nên hành vi của T không cấu thành tội phạm.

[15] Đối với hành vi NGUYỄN BÍCH H mua giúp ma túy cho Hoàng Quang L ngày 11/3/2024 không có mục đích vụ lợi, không được hưởng lợi gì, nên không cấu thành tội phạm.

[16] Về án phí: Bị cáo H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo H được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo NGUYỄN BÍCH H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

2. Xử phạt: Bị cáo NGUYỄN BÍCH H 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo NGUYỄN BÍCH H phải chấp hành là 03 (Ba) năm 05 (Năm) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 12/3/2024.

3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 0,355g (Không phẩy ba năm năm gam) ma tuý, loại Methamphetamine (Khối lượng còn lại sau khi giám định), được niêm phong trong một phong bì giấy còn nguyên vẹn, mặt trước ghi “Tang vật vụ NGUYỄN BÍCH H, ngày 12/3/2024” mặt sau tại các mép dán có chữ ký của NGUYỄN BÍCH H cùng thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) chai nhựa, trên thân chai có dán lớp ni lông nhiều màu, nắp chai màu vàng được cắm 01 (Một) ống thuỷ tinh màu trắng và 01 (Một) ống nhựa màu đen.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, loại màn hình cảm ứng, màu đen, số IMEI: 358692090274327 bên trong lắp 01 (Một) thẻ sim Viettel, trên thẻ có dãy số 8984048000927480424 (Số điện thoại 0393161122), điện thoại đã qua sử dụng.

Tình trạng vật chứng, tài sản trên như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T với Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, lập ngày 18/9/2024.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo NGUYỄN BÍCH H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo NGUYỄN BÍCH H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ