- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Xuân N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T O THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– Bản án số: 101/2024/HS-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 30/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T O, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nguyệt và ông Lưu Bá Ngọc
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T O
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T O tham gia phiên tòa: Ông Mai
Lương Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội; Tòa án nhân dân huyện T O, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm, trực tuyến, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2024/TLST-HS ngày 11/10/2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 17/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Xuân N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 31 tháng 8 năm 1970 tại: Thiệu H, TH; Nơi thường trú: Số nhà 7, ngõ 8 phố Lê L, phường Nguyễn T, quận HĐ, Hà Nội; Nơi ở hiện tại: Số nhà 7, ngõ 8 phố Lê L, phường Nguyễn T, quận HĐ, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ tên bố: Trịnh Xuân N1, sinh năm 1940; Họ tên mẹ: Phạm Thị N2 (đã chết); Anh, chị em ruột: có 03 người, bị cáo là thứ nhất; Họ tên vợ: Đào Thị Minh Thu, sinh năm 1972; Có 01 con, sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Danh chỉ bản số 312 do Công an huyện T O, Hà Nội lập ngày 19.7.2024.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 11 giờ 40 phút ngày 15/7/2024, Trịnh Xuân N sinh năm 1970, trú tại số nhà 7 ngõ 8 phố Lê L, phường Nguyễn T, quận HĐ, Hà Nội đi xe ôm của một người đàn ông không quen biết đến khu vực khu đô thị Thanh H, xã Cự K, huyện T O mua ma túy về để sử dụng phục vụ nhu cầu bản thân. Khi đến khu đô thị Thanh H, N xuống xe, đi bộ đến khu lán trại của công nhân xây dựng đặt tại khu B1.2 thuộc khu đô thị Thanh H, N gặp một người đàn ông không quen biết ở ven đường, mua 200.000đ ma túy, được 01 (một) gói giấy bạc, trong có chứa chất bột màu trắng. N cầm gói ma túy vừa mua được ở tay trái rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi N đi đến gần nhà Ban quản lý dự án thuộc khu B1.2 khu đô thị Thanh H, thuộc xã Cự K, T O, Hà Nội thì bị lực lượng Công an xã Cự K, huyện T O bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (N khai là ma túy loại Heroine mua về để sử dụng).
Tại Kết luận giám định số 5340/KL-KTHS ngày 24/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội, kết luận:“Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,130 gam”.
Tại Cáo trạng số 96/CT-VKS ngày 10.10.2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện T O, thành phố Hà Nội đã truy tố Trịnh Xuân N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị Xử phạt: Trịnh Xuân N từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy số ma túy đã thu giữ và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai nhận tội của các bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hoàn toàn đúng với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 12 giờ 00 phút ngày 15/7/2024, tại khu B1.2 thuộc khu đô thị Thanh H, xã Cự K, huyện T O, Hà Nội, Trịnh Xuân N đang có hành vi cất giấu trái phép 01(một) gói giấy màu trắng ma túy loại Heroine, khối lượng 0,130 gram để sử dụng thì bị Công an xã Cự K, huyện T O phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
. Hành vi của Trịnh Xuân N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T O, Hà Nội truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo là trái phép, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an an toàn xã hội nên cần phải có mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định trong có chứa ma túy cần tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, Trịnh Xuân N khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu B1.2, khu đô thị Thanh H, xã Cự K, huyện T O. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không làm rõ được nên Tòa không xem xét.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Xuân N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Xuân N 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam 15/7/2024.
3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn lại sau giám định của PC09 - Công an thành phố Hà Nội bên trong có mẫu vật hoàn lại, tại các mép dán có chữ ký của Trịnh Xuân N, đồng chí Lưu Tiến Thịnh và giám định viên tại các mép dán.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T O và Chi cục thi hành án dân sự huyện T O, Hà Nội).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Trịnh Xuân N phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện T O; - Công an huyện T O; - Cơ quan THADS huyện T O; - UBND các xã, phường nơi bị cáo cư trú (thay cho Thông báo kết quả xét xử) - Bị cáo; - Lưu HS, VP céng hßa x· héi chñ nghÜa viÖt nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -----------o0o---------- Thôn Long Châu Miếu, xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 6; Vợ là Nguyễn Thị Hồng, sinh năm: 1988; có 02 con (lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự: Không. * Nhân thân: phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. huyện T O, Hà Nội. (đã chuyển trại 2). II. NỘI DUNG VỤ ÁN: Anh Đức sinh năm 1986, trú tại thôn Long Châu Miếu, xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội đi xe ôm của một người không quen biết từ nhà đến khu vực thôn Chợ, xã Bình Minh, huyện T O, thành phố Hà Nội, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, Sỹ tìm mua được của một người đàn ông không quen biết (khoảng 30 tuổi, cao 1,6 m) 01 gói ma túy loại Heroine với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Sỹ cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái, đi bộ ra khu vực đầu đường Quốc lộ 21B, thuộc địa phận thôn Chợ, xã Bình Minh, huyện T O để tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng công an huyện T O phối hợp với công an xã Bình Minh phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật của vụ án. (Sỹ khai là ma túy loại Heroine). thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:“Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,137 gam.” dân huyện T O, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Anh Đức về tội Tàng trữtrái phép chất ma túy quy định tại điểm c điểm c khoản 1 Điều 249Bộ luật hình sự. IV. Đề xuất: - BC tàng trữ ma túy loại Heroin, khối lượng 0,137 gam. hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy 2018,2019,2021. - Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam 24/9/2023. - Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy ma túy. - BC nộp áp phí HS và có quyền kháng cáo theo quy định. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Mai B¶n ®Ò xuÊt xÐt xö Vụ án hình sự thụ lý số 106/2023/ TLST - HS ngµy 03/11/2023 Nguyễn Anh Đức - K1Đ249 I. Họ và tên bị cáo: Nguyễn Xuân Sỹ; 1986; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: + Ngày 20/12/2018 bị Công an huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xử phạt vi + Ngày 21/10/2019 bị Công an huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xử phạt vi + Ngày 29/9/2021 bị Công an huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ công an Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 07 giờ 00 phút ngày 24/9/2023, Nguyễn Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng Tại Bản kết luận giám định số 6496/KL-KTHS ngày 02/10/2023 của Phòng Kỹ III. VKS truy tố: Cáo trạng số 106/CT-VKS ngày 02.11.2023, Viện kiểm sát nhân - Tình tiết tăng nặng: Không; tuy nhiên nhân thân xấu, 3 lần sử phạt hành chính về - Về hình phạt: Đề nghị xử phạt Nguyễn Anh Đức từ ……..đến……… tháng tù. Ngày 20/11/2023 Thẩm phán Nguyễn Thị Ngọc Mai |