vanban.org

Bản án 101/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Tuyên án 22/10/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên ố ị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,1142gam (không phẩy một nghìn một trăm bốn mươi hai gam) mẫu vật gửi giám định và toàn ộ ao gói quản lý của Nguyễn Văn T trong phong ì hoàn trả mẫu vật giám định số 927 KL-KTHS của Phòng K - Côn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên ố ị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2024/HS-ST
Ngày 22 - 10 - 2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Gia Khải

Bà Tăng Thị Hiệu

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên. Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, đối v i ị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 10/9/1986 tại xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn R đã chết và à Nguyễn Thị G, sinh năm 1962; có vợ: đã ly hôn và 01 con sinh năm 2012; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 106/2022/HS-ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phạt 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/3/2024, thi hành xong án phí tháng 01/2023.

Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 293/QĐ/XPVPHC ngày 14/8/2009 của Công an huyện Q về hành vi đánh ạc, thi hành xong ngày 14/8/2009; Bản án số 15/2016/HSST ngày 02/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh phụ, tỉnh Thái Bình phạt 09 tháng tù về tội: “Đánh ạc”, theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999, ngày 10/3/2017 Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội ra quyết định giám đốc thẩm số 25/2017/HS-GĐT sửa ản án Hình sự sơ thẩm số 15/2016/HSST ngày 02/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, miễn trách nhiệm hình sự cho ị cáo T do số tiền đánh ạc dư i 5.000.000 đồng, thi hành xong án phí tháng 06/2016, được miễn tiền phạt ổ sung 3.000.000 đồng theo Quyết định số 27/2021/QĐST/MKTNNSNN ngày 18/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình; Quyết định số 02/QĐ-TA ngày 18/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình áp dụng iện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ắt uộc thời gian 18 tháng, chấp hành xong ngày 29/7/2019.

Bị tạm giữ từ ngày 18/6/2024 đến ngày 24/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang ị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình có mặt). Người chứng kiến: 1. Ông Nguyễn Trọng L, sinh năm 1976 (vắng mặt) 2. Ông Nguyễn Viết T1, sinh năm 1963 (vắng mặt) Cùng cư trú: Tổ F, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 17 giờ 00 phút ngày 18/6/2024, tại khu vực tổ F, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, tổ công tác của Công an huyện Q phát hiện Nguyễn Văn T đang đi ộ một mình có iểu hiện liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu về trụ sở Công an thị trấn Q để làm việc. Tại đây, tổ công tác tiến hành kiểm tra, thu giữ tại túi quần ên phải phía trư c T đang mặc 01 gói giấy trắng in ô kẻ và số ằng mực màu đen, chứa chất ột màu trắng dạng cục, T khai nhận đó là gói H vừa mua để sử dụng cho ản thân. Tổ Công tác đã lập iên ản ắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của ị cáo không phát hiện, thu giữ gì.

Bản kết luận giám định số 927/KL-KTHS, ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Herôin (Heroine),có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng 0,1457 gam (không phẩy một nghìn bốn trăm năm mươi bẩy gam).

Heroine STT: 09, Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.”

Tại phiên tòa ị cáo khai: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 18/6/2024, ị cáo đi nhờ xe của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không quen iết đến khu vực tổ F, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình mua 01 gói Heroine của một người đan ông khoảng 30 tuổi, không quen iết giá 200.000 đồng giấu vào túi quần ên phải phía trư c đang mặc rồi đi tìm chỗ vắng để sử dụng thì ị Công an huyện Q ắt quả tang.

Bản cáo trạng số 100/CT-VKSQP ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Văn T2 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên ố Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt ị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024; không áp dụng hình phạt ổ sung là phạt tiền đối v i ị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi của mình và xin giảm nh hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của ị cáo: Bị cáo đã đủ tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Lời khai nhận tội của ị cáo tại phiên tòa đúng như nội dung cáo trạng và phù hợp v i các lời khai của ị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người chứng kiến có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra còn được chứng minh ằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên ản ắt người phạm tội quả tang; iên ản quản lý đồ vật, tài liệu; iên ản niêm phong đồ vật, tài liệu ị tạm giữ; iên ản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định lập cùng ngày 18/6/2024; Phiếu xét nghiệm test nhanh Morphin/Heroin ngày 19/6/2024 của Trung tâm y tế huyện Q; Kết luận giám định số 927/KL-KTHS, ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T cùng toàn ộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 00 phút ngày 18/6/2024, tại khu vực tổ F, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 01 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1457 gam (không phẩy một nghìn bốn trăm năm mươi bẩy gam) mục đích để sử dụng cho ản thân. Hành vi của ị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

…

Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ truy tố và kết luận ị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của ị cáo thấy: Hành vi của ị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nư c về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt đời sống kinh tế cũng như đạo đức xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, gây dư luận ất ình trong quần chứng nhân dân, vì vậy ị cáo phải chịu mức án tương xứng v i hành vi ị cáo đã gây ra.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân: Bị cáo đã ị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, do đó ị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ị cáo khai áo trung thực toàn ộ hành vi phạm tội, do đó được hưởng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về nhân thân: Bị cáo đã một lần ị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh ạc, một lần ị xét xử về tội “Đánh ạc”, một lần ị áp dụng iện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ắt uộc.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân của ị cáo đã phân tích trên thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly ị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, như mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị để cải tạo, giáo dục ị cáo và có tác dụng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt ổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì ị cáo có thể ị áp dụng hình phạt ổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của ị cáo tại phiên tòa cho thấy ị cáo nghiện ma túy, tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho ản thân, thu nhập không ổn định, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt ổ sung là phạt tiền đối v i ị cáo.

Do không có căn cứ xác định người đã án ma túy cho ị cáo, do đó cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của ị cáo 01 gói ma túy, kết quả giám định kết luận là ma túy loại Heroine và hoàn trả mẫu vật sau giám định. Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, do đó cần tịch thu để tiêu hủy là phù hợp v i quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo ản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên ố ị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt ị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 6 năm 2024.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,1142gam (không phẩy một nghìn một trăm bốn mươi hai gam) mẫu vật gửi giám định và toàn ộ ao gói quản lý của Nguyễn Văn T trong phong ì hoàn trả mẫu vật giám định số 927 KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh T.

Vật chứng trên đang được chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình ngày 02/10/2024.

- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ