vanban.org

Bản án 101/2024/DS-ST — Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn N về việc chia thừa kế tài sản.

Chia cho cụ Phạm Thị B, ông Bùi Văn N, ông Bùi Văn C1, ông Bùi Văn S, ông Bùi Văn C2, bà Bùi Thị Bình, bà Vũ Thị B(tên gọi khác Bùi Thị B2), bà Bùi Thị V, bà Bùi Thị S, bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị M được quyền sử dụng phần đất (S1) diện tích 597,5m2 đất (trong đó: đất ONT 180m2, CLN 252,5m2, NTS 165m2)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "BÙI VĂN N + BÙI VĂN C1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn N về việc chia thừa kế tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:101/2024/DS-ST.
Ngày: 01 - 7 - 2024.
V/v: “Tranh chấp về thừa kế tài
sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Lịch;

2. Ông Đỗ Việt Hùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huê - Kiểm sát viên “vắng mặt”

Trong các ngày 18 tháng 6 và ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2024/TLST–DS, ngày 23 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST - DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 07/2024/QĐST – DS, ngày 18 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Bùi Văn N, sinh năm 1976; địa chỉ: Số nhà 46B, ngõ 236, phố Đại Từ, phường Đại Kim, thành phố Hà Nội; “có mặt”.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Văn C2, sinh năm 1972; địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn C, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (văn bản ủy quyền ngày 26/02/2024), “có mặt”.

- Bị đơn: Ông Bùi Văn C1, sinh năm 1956; địa chỉ: Xóm 11, xã HS, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; “có mặt”.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Bùi Văn S, sinh năm 1962; địa chỉ: số nhà 37 tổ 27 ngõ 268 phường Ngọc Thuỵ, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; “vắng mặt”.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Sướng: Ông Bùi Văn C1, sinh năm 1956; địa chỉ: Xóm 11, xã HS, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; (văn bản ủy quyền ngày 07/6/2024), “có mặt”;

2. Bà Bùi Thị N, sinh năm 1966; địa chỉ: Xóm 6, xã Hải Cường, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; “ vắng mặt”.

3. Bà Bùi Thị M, sinh năm 1969, địa chỉ: xóm X, xã HP, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

4. Cụ Phạm Thị B, sinh năm 1935; địa chỉ: Xóm 9, xã HS, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

5. Bà Bùi Thị Bình, sinh năm 1954; địa chỉ: Xóm 9, xã HS, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

6. Bà Vũ Thị B(tên thường gọi Bùi Thị B2), sinh năm 1950; địa chỉ: Xóm Minh Thiện, xã HP, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

7. Bà Bùi Thị V, sinh năm 1957; địa chỉ: Xóm 17, xã Hải Đường, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

8. Bà Bùi Thị S, sinh năm 1962; địa chỉ: Xóm 9, xã HS, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

9. Ông Bùi Văn C2, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, “có mặt”.

10. Anh Bùi Văn P, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm 11, xã HS, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; “có mặt”.

Người đại diện theo ủy quyền của: Bà Bùi Thị Bình, bà Vũ Thị B(tức Bùi Thị B2), bà Bùi Thị V, bà Bùi Thị S, cụ Phạm Thị B: là Ông Bùi Văn C2, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (văn bản ủy quyền ngày 26/02/2024), “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/01/2024, bản tự khai, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn ông Bùi Văn N, người đại diện theo ủy quyền của ông Nlà ông Bùi Văn C2 trình bày:

Vợ chồng cụ Bùi Văn Y(chết năm 1991) và cụ Phạm Thị B (hiện còn sống) sinh được 10 người con gồm: ông Bùi Văn N, ông Bùi Văn C1, ông Bùi Văn S, ông Bùi Văn C2, bà Bùi Thị B, bà Vũ Thị B(tên gọi khác Bùi Thị B2), bà Bùi Thị V, bà Bùi Thị S, bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị M, không có con riêng, con nuôi. Bố mẹ c Yđều đã chết. C Ychết không để lại di chúc.

C B và c Ycó tài sản chung là thửa đất số 113 tờ bản đồ số 37 diện tích 1195m2 (trong đó: đất ở lâu dài 360m2; đất vườn tạp 505m2; đất ao nuôi cá 330m2) tại xóm 9, xã HS, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 392394 do UBND huyện Hải Hậu cấp ngày 19 tháng 10 năm 1999 mang tên hộ bà Bùi Thị Yêng. Năm 2020, các con c B, c Ygóp tiền xây 01 nhà mái ngói cho c B ở và thờ cúng tổ tiên. C B có nguyện vọng tặng cho toàn bộ phần tài sản của mình trong khối tài sản chung vợ chồng cho ông Nnhưng ông Cửu, ông Sướng không đồng ý. Nay ông Nyêu cầu Tòa án chia thừa kế phần tài sản của c Ytrong khối tài sản chung vợ chồng là thửa đất số 113 tờ bản đồ số 37 diện tích 1195m2 theo quy định của pháp luật. Ông Nxin nhận đất và nhất trí nhận phần diện tích đất c B tặng cho. Phần tài sản của c Ythừa kế để lại ông Nnhất trí để cho c B sử dụng và làm tài sản chung của các con cháu.

Đối với 04 thửa đất ruộng gồm: thửa số 96/7 tờ bản đồ số 37 diện tích 101m2 (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 108m2), thửa đất số 4/1 tờ bản đồ số 37 diện tích 177m2 (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 190m2), thửa đất số 99/2 tờ bản đồ số 37 diện tích 337m2 (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 362m2), thửa đất số 112/1, tờ bản đồ 37 diện tích 330m2 (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 355m2) được nhà nước chia tiêu chuẩn cho 3 nhân khẩu gồm: c B, ông Cư và ông N, mỗi nhân khẩu là 1,1 sào. Qua xác minh thu thập không thuộc tài sản thừa kế của c Ynên ông Nkhông đề nghị Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai và lời khai trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Bùi Văn C1 trình bày:

Công nhận lời khai của ông N về quan hệ huyết thống và khối tài sản chung của cụ Yêng, c B để lại. C Ychết ngày 14/7/1992 (âm lịch) không phải năm 1991 nhưng ông không có tài liệu chứng minh. C Yvà c B có tài sản chung là thửa đất số 113, tờ bản đồ số 37, diện tích 1195m2 tại xóm 9, xã HS, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, đất đã được UBND huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ngày 19 tháng 10 năm 1999 đứng tên hộ bà Bùi Thị Yêng như ông Ntrình bày là đúng. Năm 2020 do nhà của vợ chồng c B cũ, xuống cấp nên các con, cháu đã đóng góp kinh phí làm nhà để c B sử dụng, sau này c B chết làm nơi thờ cúng chung. Nay ông C1nhất trí để ông Nđược sử dụng phần đất c B cho ông Ncòn phần tài sản thừa kế của c Yông nhất trí ý kiến của ông Nđể các con cháu và c B đứng tên sử dụng chung, khi c B còn sống để c B sở hữu sử dụng khi c B chết thì làm nơi sử dụng chung của các con cháu c B cụ Yêng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn gồm: cụ Phạm Thị B, bà Bùi Thị Bình, bà Bùi Thị B2, bà Bùi Thị V, ông Bùi Văn C2, bà Bùi Thị S do ông Bùi Văn C2 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Nhất trí về quan hệ huyết thống gia đình và tài sản chung của vợ chồng c B, c Ynhư ông Ntrình bày. Nguồn gốc thửa đất số 113 tờ bản đồ số 37 diện tích 1195m2 là bố mẹ c Ycho vợ chồng cụ Yêng, c B; 04 thửa đất ruộng nhà nước cấp tiêu chuẩn cho 3 nhân khẩu gồm c B, ông Cư và ông N. Nay ông N yêu cầu chia thừa kế tài sản của c Ythì:

Cụ Phạm Thị B tự nguyện tặng cho phần diện tích đất được chia trong khối tài sản chung của vợ chồng (tương đương 1/2 diện tích thửa đất thổ) cho ông Bùi Văn N, phần diện tích đất là tài sản thừa kế của c Ytại phiên tòa nhất trí đề nghị Tòa án chia sử hữu chung cho c B và các anh chị em sử dụng chung, khi c B còn sống để c B ở và sử dụng, khi c B chết anh chị em con cháu c B, c Ysử dụng chung.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn gồm: ông Bùi Văn S (người đại diện theo ủy quyền là ông Bùi Văn C1), bà Bùi Thị M, bà Bùi Thị N trình bày:

Quan hệ huyết thống gia đình và tài sản chung của vợ chồng cụ Phạm Thị B, cụ Bùi Văn Ynhư nguyên đơn ông Bùi Văn N trình bày là đúng. Nay ông Bùi Văn S, bà Bùi Thị M, bà Bùi Thị N nhất trí chia thừa kế tài sản của c Ytrong khối tài sản chung vợ chồng và đều có nguyện vọng nhận đất vào vị trí có nhà c B đang quản lý, sử dụng để làm nơi thờ cúng chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: Cụ Phạm Thị B, bà Bùi Thị Bình, bà Bùi Thị B2, bà Bùi Thị V, bà Bùi Thị S, ông Bùi Văn S vắng mặt nhưng đều đã ủy quyền và người được ủy quyền đều có mặt tại phiên tòa; bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị M đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

Về quan hệ pháp luật và xem xét thẩm định tại chỗ:

Nguyên đơn khởi kiện chia thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất của cụ Bùi Văn Ychết năm 1991, tài sản có địa chỉ tại xóm 9, xã HS, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự thì thời hiện khởi kiện chia thừa kế đối với bất động sản là 30 năm, tính đến thời điểm chia thừa kế, c Ychết đã trên 30 năm nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các đồng thừa kế không yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện, do đó căn cứ khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án không áp dụng thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ Yêng. Do vậy theo quy định tại khoản 5 Điều 26, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đang tranh chấp như sau:

- Diện tích đo đạc hiện trạng thửa đất số 113 tờ bản đồ số 37 diện tích 1195m2 do c B đang quản lý, sử dụng toàn bộ.

Giá đất ở 2.500.000đồng/m2, giá đất chuyển đổi mục đích sử dụng 1.800.000đồng/m2, đất ruộng có giá 55.000đồng/m2 ; giá công quật lập đất 55.000đồng/m2.

- Kết quả xem xét hiện trạng và định giá tài sản trên đất :

+ 01 nhà ở cấp bốn, bốn gian mái ngói có kèo xà gồ, cầu phong, ly tô gỗ, cửa gỗ lim làm năm 2020, 2021 diện tích 92m2 (11,5m x 8m) và 01 củng thờ gắn liền với nhà ở diện tích 17,1m2, tổng giá trị còn lại 383.902.000 đồng trong đó : giá trị nhà 330.571.000 đồng, giá trị củng 53.331.000 đồng; 01 nhà bếp liền phía tây nhà ở, diện tích 23,65m2 (4,3m x 5,5m) làm năm 2021 giá trị còn lại 44.146.000 đồng ; 01 công trình phụ và nhà tắm phía sau bếp làm năm 2021 diện tích 5,78m2 giá trị còn lại 17.520.000 đồng; 01 lán lợp tôn liên doanh hành lang giữa nhà ở và bếp làm năm 2021, giá trị còn lại 1.363.000 đồng; 01 sân bê tông trước nhà giá trị còn lại 41.175.000 đồng; 01 chòi mái ngói cạnh ao, không có tường, cột gỗ vì kèo gỗ ở phía đông thổ giá trị còn lại 11.934.000 đồng; Tường bao loan ở phía đông và phía tây thổ giá trị còn lại 13.445.000 đồng; Bờ kè xung quang ao giá trị còn lại 14.166.000 đồng; 02 trụ cổng xây gạch không nung, bê tông, vữa xi măng giá trị còn lại 1.690.000 đồng; 02 cánh cổng inox hộp, giá trị còn lại 2.883.000 đồng; Giá trị phần đất quật lấp một phần đất ao thành đất nổi là 8.765.000 đồng; Giá trị quật lập đất ruộng thửa 112/1 phía trước nhà thành đất vườn 7.315.000 đồng; 01 ao phía trước sân nhà. Toàn bộ các công trình trên đất do c B đang quản lý, sử dụng.

+ Toàn bộ đất ruộng, vườn hiện đang có cây xanh do ông Bùi Văn C1 và anh Bùi Văn P trồng (các đương sự đều không yêu cầu xem xét và định giá cây).

Xét yêu cầu khởi kiện: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự có cơ sở khẳng định: thửa đất số 113 tờ bản đồ số 37 diện tích 1195m2 (trong đó: đất ở lâu dài 360m2; đất vườn tạp 505m2; đất ao nuôi cá 330m2) tại xóm 9, xã HS, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 392394 do UBND huyện Hải Hậu cấp ngày 19 tháng 10 năm 1999 mang tên hộ bà Bùi Thị Yêng là tài sản chung của vợ chồng cụ Bùi Văn Yêng, Phạm Thị B. C Ychết không để lại di chúc, toàn bộ thửa đất chưa chia, do đó căn cứ các Điều 609, 613 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông Bùi Văn N.

Về chia tài sản chung của cụ Bùi Văn Yvà cụ Phạm Thị B: Căn cứ Điều 33 và Điều 66 Luật Hôn nhân gia đình, cụ Yêng, c B mỗi người được hưởng ½ khối tài sản chung của vợ chồng là 597,5m2 đất (trong đó: đất ONT 180m2, CLN 252,5m2, NTS 165m2 ) thuộc thửa số 113 tờ bản đồ số 37 tại xóm 9, xã HS, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 392394 do UBND huyện Hải Hậu cấp ngày 19 tháng 10 năm 1999 mang tên hộ bà Bùi Thị Yêng trị giá 1.201.500.000đồng. C B tự nguyện tặng cho toàn bộ phần tài sản này cho ông Bùi Văn N, ông Nnhất trí nhận. Xét sự việc tặng cho tài sản đất phần của c B cho ông Nlà tự nguyện và hợp pháp nên cần được chấp nhận.

Về chia thừa kế di sản của cụ Bùi Văn Yêng: C Ychết không để lại di chúc, xác đinh diện tích đất 597,5m2 đất (trong đó: đất ONT 180m2, CLN 252,5m2, NTS 165m2 ) thuộc thửa số 113 tờ bản đồ số 37 tại xóm 9, xã HS, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 392394 do UBND huyện Hải Hậu cấp ngày 19 tháng 10 năm 1999 mang tên hộ bà Bùi Thị Yêng trị giá 1.201.500.000đồng là di sản thừa kế của c Yđược chia đều cho các đồng thừa kế của cụ Yêng.

Những người được hưởng thừa kế của c Ylà c B và 10 người con gồm: cụ Phạm Thị B, ông Bùi Văn N, ông Bùi Văn C1, ông Bùi Văn S, ông Bùi Văn C2, bà Bùi Thị Bình, bà Vũ Thị B(tên gọi khác Bùi Thị B2), bà Bùi Thị V, bà Bùi Thị S, bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị M đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất của c Ytheo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự.

Do đó di sản của c Yđược chia đều làm 11 suất bằng nhau cho những người thừa kế, mỗi người được chia 54,318m2 trị giá 109.227.272 đồng.

Về tài sản trên đất là công trình xây dựng, các đương sự có quyền lợi liên quan tại phiên tòa đều thống nhất sử dụng chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vị trí đất chia thừa kế: Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự nhất trí chia thừa kế tài sản của c Yđể lại và có nguyện vọng sử dụng chung vào vị trí có công trình, ngôi nhà c B đang sử dụng, khi chia thừa kế tài sản tất cả các đương sự đều nhất trí để c B sử dụng, sau này c B chết thì tài sản là đất và công trình trên đất này là tài sản sử dụng chung không yêu cầu thanh toán giá trị. Xét thấy đây là ý kiến tự nguyện của các đương sự cần ghi nhận sự tự nguyện này. Một nửa đất còn lại của c B trong khối tài sản chung của c B và cụ Yêng, c B tặng cho ông Nnên chia cho ông Nđược quyền sử dụng ở vị trí còn lại là phù hợp.

Về đất hai lúa: Đối với 4 thửa đất hai lúa gồm: Thửa đất số 96/7, tờ bản đồ số 37 diện tích 108m2; Thửa đất số 4/1, tờ bản đồ số 37 diện tích 190m2; Thửa đất số 99/2, tờ bản đồ số 37 diện tích 362m2; Thửa đất số 112/1, tờ bản đồ 37 diện tích là 355m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 392394 do UBND huyện Hải Hậu cấp ngày 19 tháng 10 năm 1999 mang tên hộ bà Bùi Thị Yêng, các đương sự đều thừa nhận 4 thửa đất hai lúa là tiêu chuẩn nhà nước giao cho c B, ông Cư và ông Ncanh tác không phải là di sản thừa kế của c Ydo đó không yêu cầu Tòa án giải quyết .

Ông Bùi Văn C1 và anh Bùi Văn P có nghĩa vụ chuyển toàn bộ các cây trồng trên phần đất chia cho ông Nđể trả lại mặt bằng đất cho ông N.

Chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc thẩm định và định giá tài sản, ông Bùi Văn C2 đã nộp đủ và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự đều được chia di sản thừa kế nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị tài sản được chia. Tuy nhiên c B, ông Cửu, ông Sướng, bà Bình, bà Bính, bà Vam, bà Sinh đều là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí. Ông N, bà Nõn, bà Mỵ, ông Cư phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: vào khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a,c khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 184; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ: Điều 213, Điều 219, Điều 500, Điều 612, Điều 613, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 của Bộ luật Dân sự; Điều 33, Điều 66 của Luật Hôn nhân gia đình; Điều 167 Luật đất đai năm 2013;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn N về việc chia thừa kế tài sản.

2. Chia cho cụ Phạm Thị B, ông Bùi Văn N, ông Bùi Văn C1, ông Bùi Văn S, ông Bùi Văn C2, bà Bùi Thị Bình, bà Vũ Thị B(tên gọi khác Bùi Thị B2), bà Bùi Thị V, bà Bùi Thị S, bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị M được quyền sử dụng phần đất (S1) diện tích 597,5m2 đất (trong đó: đất ONT 180m2, CLN 252,5m2, NTS 165m2) thuộc thửa số 113 tờ bản đồ số 37 tại xóm 9, xã HS, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 392394 do UBND huyện Hải Hậu cấp ngày 19 tháng 10 năm 1999 mang tên hộ bà Bùi Thị Yêng trị giá 1.201.500.000đồng được giới hạn bởi các điểm (1,2,2’,7’, 8,1), mang tên hộ bà Bùi Thị Yêng.

3. Chia cho ông Bùi Văn N được quyền sử dụng phần đất (S2) diện tích 597,5m2 đất (trong đó: đất ONT 180m2, CLN 252,5m2, NTS 165m2) thuộc thửa số 113 tờ bản đồ số 37 tại xóm 9, xã HS, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 392394 do UBND huyện Hải Hậu cấp ngày 19 tháng 10 năm 1999 mang tên hộ bà Bùi Thị Yêng, được giới hạn bởi các điểm ( 2’,3,4,5,6,7,7’,2’) mang tên hộ bà Bùi Thị Yêng.

(Vị trí, chiều cạnh quyền sử dụng đất và tài sản trên đất các đương sự được quyền sử dụng có sơ đồ vẽ kèm theo).

Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án. Hiện nay bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 392394 do UBND huyện Hải Hậu cấp ngày 19 tháng 10 năm 1999 mang tên hộ bà Bùi Thị Yêng do cụ Phạm Thị B đang quản lý, c B có trách nhiệm bàn giao lại cho các đương sự khác hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự theo quyết định của bản án khi họ có yêu cầu.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho cụ Phạm Thị B, ông Bùi Văn C1, ông Bùi Văn S, bà Bùi Thị Bình, bà Bùi Thị B2, bà Bùi Thị V, bà Bùi Thị S vì là người cao tuổi.

Bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị M, ông Bùi Văn C2 mỗi người phải nộp 5.460.000 đồng án phí chia thừa kế tài sản.

Ông Bùi Văn N phải nộp 5.460.000 đồng án phí chia thừa kế tài sản và 300.000đồng án phí được tặng cho tài sản, được khấu trừ số tiền 5.000.000 đồng đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003050 ngày 23/02/2024 của Chi cụ thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Ông Ncòn phải nộp 760.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Ông Bùi Văn N, ông Bùi Văn C2, cụ Phạm Thị B, ông Bùi Văn C1, ông Bùi Văn S, bà Bùi Thị Bình, bà Bùi Thị B2, bà Bùi Thị V, bà Bùi Thị S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Lịch Đỗ Việt Hùng

Nguyễn Thị Hằng

Cỡ chữ