- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "NGUYỄN THỊ T - LÊ VĂN CƯỜNG A"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2024 /DS-PT Ngày: 02 -7 -2024 V/v Đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Lê Thành Trung
Các Thẩm phán:
Ông Trần Văn Lực
Ông Đặng Văn Hùng
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Nhả, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Liên- Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 105 /2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “ Đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 108/2023/DS-ST ngày 12/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Càng Long bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:47/2024/QĐPT-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Ông Lê Văn Cường A, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người kháng cáo: Nguyễn Thị T là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14 tháng 12 năm 2023 nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Vào khoảng 15 giờ ngày 24/11/2021, bà Nguyễn Thị T thuê Bùi Văn M cuốc đất bồi bờ tại khu đất vườn của gia đình. Do tranh chấp về vấn đề đất đai tại vị trí bồi đất nên ông Lê Văn C Anh không cho cuốc nữa. Tại đây, cả hai xảy ra cự cải, Cường A dùng tay phải cung tay đánh một cái trúng vào vùng mắt trái của bà T gây thương tích.
Sau khi bị đánh, bà T phải đi nhập viện điều trị, đi tái khám nhiều lần và còn phải uống thuốc điều trị. Tổng số tiền viện phí, thuốc và ngày công lao động trong thời gian bà T phải ở nhà điều trị vết thương là: 48.997.000 đồng, bao gồm:
Tiền thuốc và viện phí: 1.437.000 đồng;
Tiền xe đi lại khám và điều trị: 7.560.000 đồng (bao gồm xe máy và xe ô tô 7 chỗ, có bảng kê chi tiết kèm theo);
T1 ăn dưỡng theo toa thuốc là 200 ngày 01 ngày là 200.000đ = 40.000.000 đồng;
Nay bà T yêu ông Lê Văn C Anh phải bồi thường tiền viện phí, thuốc điều trị, chi phí đi lại và tiền ăn dưỡng trong thời gian điều trị số tiền 48.997.000 đồng. Tại phiên tòa bà T yêu cầu bổ sung đối với ông Lê Văn Cường A phải bồi thường tiền ngày công lao động và tiền tổn thất tinh thần trong thời gian trị bệnh theo quy định pháp luật.
Bị đơn Lê Văn C Anh vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 108/2023/DS-ST ngày 12/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Càng Long đã xử:
Căn cứ khoản 6 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 157; Điều 217, 264; Điều 266; Điều 267; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 357, 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T yêu cầu ông Lê Văn C Anh bồi thường thiệt hại sức khỏe.
Buộc ông Lê Văn C Anh phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị T tổng các khoản với số tiền là 12.430.000 đồng (Mười hai triệu bốn trăm ba chục ngàn đồng).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên tiền án phí, nghĩa vụ do chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 26/10/2023 bà Nguyễn Thị T kháng cáo yêu cầu ông Lê Văn C Anh bồi thường cho bà bằng 21.307.000 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, các đương sự không bổ sung, cung cấp chứng cứ gì mới tại phiên tòa.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh về vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm các đương sự đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Kháng cáo của bà Nguyễn Thị T là không có cơ sở chấp nhận đề nghị Hội đồng xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự và kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: ông Lê Văn C Anh là bị đơn được Tòa án tống đạt văn bản hợp lệ hai lần nhưng ông Cường A từ chối nhận văn bản tố tụng. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T yêu cầu ông Lê Văn Cường A bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà bằng 21.307.000 đồng.
Vào lúc 15 giờ ngày 24/11/2021 giữa bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn C Anh có xảy ra cự cãi về việc tranh chấp đất ông C có dùng tay đánh vào mặt bà T 02 cái. Đến ngày 29/11/2021 bà T có đến Trung tâm y tế huyện C điều trị 01 ngày xuất viện về. Ngày 09/5/2021 và ngày 16/5/2021 bà T có đến khám bệnh tại Bệnh viện mắt thành phố H.
Bà T yêu cầu ông C bồi thường tiền thuốc 1.437.000 đônhg, tiền xe khám chữa bệnh 7.560.000 đồng, tiền ăn dưỡng bệnh 40.000.000 đồng. Tổng cộng 48.997.000 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận các khoản điều trị của bà T như sau:
- Chi phí tiền thuốc bằng 1.437.000 đồng.
- Tiền xe ôm đi từ nhà đến Trung tâm y tế huyện C, đi giám định: 1.020.000 đồng.
- Tiền ăn dưỡng bệnh cho bà T 30 ngày bằng 6.000.000 đồng.
- Tiền công lao động 30 ngày bằng 7.500.000 đồng.
- Tiền tổn thất tinh thần bằng 1.800.000 đồng
Tổng cộng các khoản bằng 17.757.000 đồng và buộc bà T chịu 30% lỗi.
Xét thấy hồ sơ bệnh án của bà T thể hiện bà chỉ nằm điều trị 01 ngày tại Trung tâm y tế huyện C bệnh tạm ổn được xuất viện, bệnh viện không chỉ định bà T phải nằm nghỉ dưỡng bệnh hoặc phải ăn uống hơn mức bình thường để dưỡng bệnh. Tòa án nhân dân huyện Càng Long tính tiền ăn dưỡng bệnh 30 ngày bằng 6.000.000 đồng, tiền công lao động trong 30 ngày của người bệnh bằng 7.500.000 đồng là không đúng. Đối với việc bà T đi khám chữa bệnh tại Bệnh viện mắt thành phố H ngày 09/5/2022 và ngày 16/5/2022 cách thời gian bị đánh trên 05 tháng. Theo toa thuốc điều trị của Bệnh viện mắt chuẩn đoán các bệnh võng mạc mắt. Theo kết quả giám định số 6442/CO9B ngày 24/11/2022 khám chuyên khoa mắt kết luận hai mắt hiện tại chưa phát hiện vết tích của chấn thương.
Như vậy, các khoản chi khám chữa bệnh thực tế của bà T gồm:
Tiền thuốc 1.437.000 đồng, tiền xe ôm 1.020.000 đồng.
Tiền thuê xe đi khám bệnh tại thành phố Hồ Chí minh: 3.200.000 đồng.
Tiền công lao động 03 ngày trị bệnh của người nuôi và người bệnh: 1.500.000 đồng (mỗi ngày 250.000đ/người).
Tiền tổn thất tinh thần: 1.800.000 đồng.
Tổng cộng bằng: 8.957.000 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Cường A bồi thường cho bà T số tiền 12.430.000 đồng (Mười hai triệu bốn trăm ba chục ngàn đồng) ông Cường A không kháng cáo là có lợi cho bà T nên yêu cầu kháng cáo của bà T không có cơ sở để chấp nhận.
Ý kiến của kiểm sát viên là phù hợp với các tình tiết của vụ án nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị T;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 584, 585, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T;
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 108/2023/DS-ST ngày 12/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Càng Long;
Tuyên xử:
Buộc ông Lê Văn C Anh phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị T tổng các khoản với số tiền là 12.430.000 đồng (Mười hai triệu bốn trăm ba chục nghìn đồng).
Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị T;
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Trà Vinh; - TAND Càng Long; - Chi cục THADS huyện Càng Long; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: TDS, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Trung |