- Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án MAN phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo MAN phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML TỈNH SL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________ Bản án số: 101/2023/HS-ST Ngày 15-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SL
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lò Minh Ngọc.
Ông Tòng Văn Máy.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ml, tỉnh SL.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ml tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Thiều - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ml, tỉnh SL xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
MAN, sinh ngày 20/3/1984, tại NG, Ml, SL; Nơi ĐKHKTT: Bản HH, xã NG, huyện Ml, tỉnh SL; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông MAP, sinh năm 1940 và con bà HTS, sinh năm 1941; có vợ HTM, sinh năm 1985, có 03 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2023; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lường Ngọc Chiến, Luật sư - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh SL. Có mặt.
- Người phiên dịch: Bà Vàng Thị Dàng, địa chỉ: Tiểu khu 3, thị trấn IO, huyện Ml, tỉnh SL. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo MAN bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ml truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 26/6/2023, tại bản ĐE, xã CL, huyện Ml, tỉnh SL, Công an phát hiện và bắt quả tang MAN, sinh ngày 20/3/1984, ở bản HH, NG, huyện Ml, tỉnh SL đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ do MAN tự giác lấy từ trong túi áo phía trước bên trái đang mặc giao nộp:
01 gói được gói bằng nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, MAN khai là Heroine để sử dụng;
Ngày 26/6/2023 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:
Vật chứng thu giữ do MAN tự giác giao nộp:
01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,63 gam lấy 0,19 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu N1;
Cơ quan Công an huyện Ml ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 1626/KL-KTHS ngày 27/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh SL, kết luận:
Mẫu ký hiệu N1 là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,19 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,63 gam Heroine;
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo MAN không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Quá trình điều tra MAN khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 26/6/2023 MAN đi từ nhà đến bản HH, xã NG, huyện Ml đến khu vực bản ĐE, xã CLo, huyện Ml tại đây MAN có gặp và mua của một người đàn ông dân tộc thái không biết tên và địa chỉ 01 gói Heroine với giá 150.000, đồng cất giấu ở túi áo trên ngực bên trái, mục đích để sử dụng, đi đến khu vực bản ĐE, xã CL, huyện Ml thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Về nguồn gốc ma túy MAN khai mua của một người đàn ông dân tộc thái không biết tên, địa chỉ với số tiền 150.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của MAN.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo MAN đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Bản cáo trạng số: 73/CT-VKS-ML ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ml truy tố bị cáo MAN về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo MAN phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
2
Xử phạt MAN từ 24 đến 30 tháng tù;
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ:
01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; 0,44 gam Heroine (đều được niêm phong).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo có nguyện vọng xin nộp án phí, nên phải chịu 200.000, đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo, người bào chữa nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ml, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ml, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Bị cáo MAN thừa nhận: Hồi 16 giờ 00 phút ngày 26/6/2023, tại bản ĐE, xã CL, huyện Ml, tỉnh SL đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,63 gam, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.
3
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: MAN đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; 0,44 gam Heroine (đều được niêm phong).
Về nguồn gốc ma túy MAN khai mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ với số tiền 150.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của MAN, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.
Bị cáo MAN đã được giải thích được miễn án phí, nhưng đều có nguyện vọng được nộp án phí, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo MAN phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo MAN 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 26/6/2023.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
4
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; 0,44 (không phẩy bốn mươi bốn) gam Heroine (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 26/6/2023). Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ml, tỉnh SL.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo MAN phải chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 15/9/2023.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh SL; - Sở tư pháp tỉnh SL; - VKSND huyện Ml (2); - Công an huyện Ml; - THAHS; - Chi cục THA dân sự huyện Ml; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu: Hồ sơ, án văn. 5 6 | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Nguyễn Minh Tuấn |