- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Giàng A D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2023/HS-ST Ngày 27-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lường Văn Dũng;
2. Ông Quàng Ngọc Tiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tiến Trường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Duyên, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2023/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng A D (tên gọi khác: Không), sinh năm 1972 tại huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: Bản Háng L, xã Keo L huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng Chá S (đã chết) và bà Mùa Thị B (đã chết); từ năm 1996 sống chung như vợ chồng với chị Vàng Thị B, sinh năm 1977 và có 03 con, con lớn nhất (đã chết), con nhỏ nhất 2013; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 14/10/2002 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 07 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Ngày 27/01/2008 bị cáo chấp hành xong, hiện đã được xóa án tích. Chưa bị xử phạt hành chính lần nào; tạm giữ từ ngày 13/6/2023 đến ngày 22/6/2023, tạm giam từ ngày 22/6/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 13/6/2023 Giàng A D đang ở nhà thì có một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết đi xe máy đến nhà rủ đi mua Heroine, D đồng ý. Người đàn ông điều khiển xe máy chở D lên bản Phì X, xã Phình G, huyện Điện Biên Đ dừng xe gần bờ suối một lúc thì người đàn ông dân tộc Mông tên Sếnh C đi đến. Qua trao đổi người đàn ông dân tộc Thái mua được 01 gói Heroine gói bằng nilon màu hồng, với giá 100.000đ, mục đích về cùng nhau sử dụng. Sau khi mua được Heroine, người đàn ông đưa cho D rồi D cất vào túi quần bên trái đang mặc, người đàn ông dân tộc Thái chở D về. Hồi 19 giờ 05 phút cùng ngày, khi cả hai về đến bản Háng L, xã Keo L, huyện Điện Biên Đ thì bị tổ công tác Công an xã Keo L, huyện Điện Biên Đ yêu cầu dừng xe kiểm tra, thì người đàn ông dân tộc Thái điều khiển xe chạy, tổ công tác phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái D đang mặc 01 gói Heroine, khối 0,36 gam.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon màu hồng được dùng nhiệt hàn kín, bên trong có chứa 01 cục chất bột màu trắng đục dạng nén nghi là Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng hồi 22 giờ 00 phút, ngày 13/6/2023 xác định: 01 cục chất bột màu trắng đục dạng nén nghi Heroine thu giữ của Giàng A D có khối lượng 0,36 gam. Trích gửi mẫu giám định 0,14 gam. Vật chứng còn lại 0,22 gam.
Tại bản kết luận giám định số: 970/KL-KTHS ngày 21/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng đục trích ra từ vật chứng thu giữ của Giàng A D là chất ma túy: Loại Heroine.
Bản cáo trạng số: 80/CTVKSĐB-P1 ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Giàng A D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Giàng A D cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Giàng A D từ 13 tháng đến 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy 0,22 gam Heroine còn lại sau khi giám định.
- Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo Giàng A D thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, một lần nữa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:
Hồi 19 giờ 05 phút ngày 13/6/2023, tổ công tác Công an xã Công an xã Keo L, huyện Điện Biên Đ đang làm nhiệm vụ tại bản bản Háng L, xã Keo L, huyện Điện Biên Đ phát hiện, bắt quả tang Giàng A D đang cất giấu trái phép 0,36 gam Heroine trên người, mục đích để sử dụng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Giàng A D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Như vậy, bản Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, đề nghị của Viện Kiểm sát phù hợp, HĐXX chấp nhận.
. Về tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn xã Keo L nói riêng, huyện Điện Biên Đ nói chung. Vì vậy, hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Ngày 14/10/2002 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 07 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Ngày 27/01/2008 bị cáo chấp hành xong, hiện đã được xóa án tích, bị cáo không có tình thiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử chấp nhận đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục đồng thời để cai nghiện bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghiệp bị cáo làm nông nghiệp, là đối tượng nghiện chất ma túy, tài sản gia đình không có gì có giá trị, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên không có điều kiện để thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
. Về vật chứng vụ án:
Đối với 0,36 gam Heroine, trích mẫu gửi giám định 0,14 gam. Vật chứng còn lại 0,22 gam là chất thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu và tiêu hủy toàn bộ theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với người đàn ông dân tộc Thái chở Giàng A D đi mua ma túy và người đàn ông tên Sếnh C do không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ để điều tra làm rõ, do vậy, không đề cập xử lý trong vụ án này. HĐXX không xem xét.
. Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm vì là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Giàng A D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Giàng A D 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 13/6/2023).
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu, tiêu hủy 0,22 gam Heroine còn lại sau giám định.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng.
Vật chứng trên được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 14 giờ 10 phút ngày 13/9/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên Đông và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14;
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng A D.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2023)./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Điện Biên Đông; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Nhà tạm giữ C.A huyện Điện Biên Đông; - Cơ quan CSĐT C.A huyện Điện Biên Đông; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - CC.THADS huyện Điện Biên Đông; - Lưu Hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Giang |