vanban.org

Bản án 101/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 16/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Sùng A C phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Sùng A C 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 01/7/2022. Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng A C - Phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sùng A C phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 101/2022/HS-ST
Ngày 16/10/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.

Các Hội thẩm Tòa án nhân dân: Ông Nguyễn Nhật Thủy và bà Phạm Thị Dung.

- Thư ký phiên tòa:

Tại điểm cầu trung tâm: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Tại điểm cầu thành phần: Ông Phạm Văn Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa:

Tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Viết Tâm - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần: Bà Nguyễn Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2022, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2022/TLST- HS ngày 03 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2022/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Sùng A C (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1989; tại huyện T, tỉnh L; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Q, xã P, huyện T, tỉnh L; chỗ ở: thôn N, xã T, thành phố U, tỉnh Q; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sùng A P (đã chết) và bà Sùng Thị D, sinh năm 1960; có vợ là Tẩn Thị M, sinh năm 1989 và có 01 con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 01/7/2022 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Anh Bàn Xuân V, sinh năm 1988; địa chỉ: thôn N, xã T, thành phố U, tỉnh Q; vắng mặt tại phiên tòa.

2. Anh Mã Văn K, sinh năm 1979; địa chỉ: thôn N, xã T, thành phố U, tỉnh Q; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 30/6/2022, Sùng A C đang ở nhà thì nẩy sinh ý định sử dụng ma túy, C một mình đi đến khu vực bản T, xã P, huyện T, tỉnh L tìm mua ma túy. Tại đây C gặp 01 người đàn ông (không rõ lai lịch địa chỉ) và nhờ người này đi mua hộ 500.000 đồng ma túy Heroine, người này đồng ý. C đưa cho người này tiền, người này cầm tiền rồi bỏ đi. Khoảng 20 phút sau người này quay lại đưa cho C 01 gói nilon màu trắng, C cầm kiểm tra thấy bên trong có chứa ma túy cần mua, C đi đến 01 bụi cây gần đó bỏ ra một ít để sử dụng, số còn lại C cất vào trong người để sử dụng dần rồi đi về nhà. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, C bắt xe khách đi đến thành phố U, tỉnh Q để làm thuê. Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 01/7/2022, C đến lán công nhân nơi làm việc tại thôn N, xã T, thành phố U, tỉnh Q nghỉ ngơi. Đến khoảng 07 giờ 40 phút ngày 01/7/2022, C dậy chuẩn bị đi làm thì bị Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ: Tại túi quần phía trước bên trái C đang mặc 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xám, bên trong gắn sim số 0988.503.760.

Tại bản Kết luận giám định số 1098/KL-KTHS ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy loại Heroine khối lượng 0,451 gam.

Tại Cáo trạng số 101/CT - VKSUB ngày 30/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố Sùng A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với Sùng A C như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Sùng A C với mức hình phạt từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, ngày 01/7/2022; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1098/KL-KTHS ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xám, bên trong gắn sim số 0988.503.760 là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.

Người làm chứng anh Bàn Xuân V và anh Mã Văn K vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang của cơ quan điều tra.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tài liệu chứng cứ trong hồ sơ; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc định tội đối với bị cáo: Lời khai của bị cáo Sùng An C tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai xác nhận của những người làm chứng và nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 01/7/2022 tại thôn N, xã T, thành phố U, tỉnh Q, Sùng A C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự bị bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi cố ý tàng trữ trái phép 0,451 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về hình phạt:

Hình phạt chính:

Về tính chất, mức độ phạm tội bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Sùng A C không có tình tiết tăng nặng về trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo cần có một hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để bị cáo rèn luyện, giáo dục và sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đến 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng). Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội không vì mục đích lợi nhuận nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1098/KL-KTHS ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định còn nguyên vẹn.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu xám gắn sim số 0988.503.760 là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Sùng A C ở khu vực bản T, xã P, huyện T, tỉnh L, quá trình điều tra, không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại của pháp luật.

Từ nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Sùng A C phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Sùng A C 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 01/7/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1098/KL-KTHS ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định, còn nguyên vẹn.

Trả lại cho bị cáo Sùng A C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu xám, bên trong gắn sim số 0988.503.760.

(Tình trạng và đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng hồi 10 giờ 00 phút, ngày 13 tháng 10 năm 2022 giữa Công an thành phố Uông Bí và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về án phí: Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Danh mục án phí, lệ phí Toà án của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Sùng A C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ: Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ