- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phú Ca - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phú C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2022/HS-ST Ngày: 25/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Vương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị H
Bà Vũ Thị Minh H
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương A - Thư ký Tòa án nhân dân quận H, thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Q - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2022/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Phú C; tên gọi khác: không; Giới tính; nam; Sinh năm 2000; HKTT: thôn P, xã TP, huyện Q, thành phố H. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Phú H; Sinh năm 1974; Mẹ đẻ: Lê Thị Y; Sinh năm 1976; Anh, chị, em ruột: gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không;
Nhân thân: - Quyết định số 50 ngày 08/3/2019, của UBND xã TP, huyện Q áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời hạn 03 tháng.
- Quyết định số 85 ngày 05/7/2021, của UBND xã TP áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn, thời hạn 06 tháng.
Bị cáo bị bắt quả tang từ ngày 01/01/2022, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an thành phố H, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 00 ngày 01/01/2022, Nguyễn Phú C đang ở phòng 201 nhà nghỉ AS2 thuộc xã ĐL, huyện Q, thành phố H thì nhận được điện thoại của một nam thanh niên (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) từ số thuê bao 0879831949 gọi điện thoại vào số máy 0776430403 của C để hỏi mua “01 chỉ Ke và 03 viên kẹo” (ý hiểu là muốn mua ma túy tổng hợp dạng Ke và ma túy tổng hợp dạng kẹo), C đồng ý và bảo nam thanh niên 1 chỉ Ke, 3 viện kẹo tổng cộng giá 4.700.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng) và hẹn C đến khu vực A, phường DN, quận H, thành phố H để giao dịch mua bán ma túy. Sau đó, C dùng số thuê bao 0776430403 gọi điện đến số điện thoại 0971459871 của một người nam giới lưu trong danh bạ điện thoại “SĐ” (không rõ tuổi, địa chỉ) hỏi mua 01 chỉ Ke và 3 viên kẹo với giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) và hẹn đến khu vực Cầu vượt Bắc - Nam, huyện Q, thành phố H để giao dịch mua bán ma túy. C đi xe taxi Q, biển kiểm soát 30F- 782.59 do anh Vũ Đức C (Sinh năm 1991, HKTT: thôn P, xã VC, huyện H, thành phố H) làm lái xe, khi đi đến nơi C xuống xe nói là đi có việc và bảo anh C đợi. C gọi điện thoại cho S được S chỉ chỗ cất giấu ma túy ở gốc cây gần quán trà chanh. C đến vị trí gốc cây theo chỉ dẫn của S, thấy 01 (một) chiếc khẩu trang màu trắng bên trong chứa 01 (một) túi nilon kích thước (03x03) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng và 03 (ba) viên nén màu vàng. C nhặt chiếc khẩu trang chứa ma túy ở gốc cây cất vào trong túi áo đang mặc rồi tiếp tục đi xe taxi đến khu vực A, phường DN, quận H, thành phố H để giao hàng. Đến nơi, C lấy trong túi áo chiếc khẩu trang bên trong chứa 01 túi ma túy Ke và 03 viên hồng phiến, ném xuống xô Bêtông cứng gần lề đường A , rồi đứng cách đó khoảng 10m để đợi khách mua ma túy, nhưng chưa kịp bán, thì bị tổ công tác Công an phường NT, phối hợp với Công an phường DN, quận H kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: + 01 (một) chiếc khẩu trang màu trắng bên trong có: 01 (một) túi nilon kích thước (03x03) cm, chứa tinh thể màu trắng và 03 (ba) viên nén màu vàng;
+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng, sim số thuê bao 0776430403.
Ngày 03/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra lệnh khám xét khẩn cấp số 06 và tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Phú C tại: thôn P, xã TP, huyện Q, thành phố H, nhưng không thu giữ gì.
Ngày 02/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Quyết định trưng cầu giám định số 62 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H giám định vật chứng thu giữ trên của Nguyễn Phú C. Tại bản kết luận giám định số 359/KLGĐ-PC09 ngày 11/01/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H, kết luận:
“Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Ketamine, khối tượng: 1,230 gam.
03 viên nén màu vàng đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng: 1,480 gam”.
Tại bản Cáo trạng số 73/CT-VKS-HS ngày 12/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố H đã truy tố: Nguyễn Phú C về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm Sát, tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt Nguyễn Phú C từ 36 đến 42 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật chứng thu giữ, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 01/01/2022, tại đường A, phường DN, quận H, H, Nguyễn Phú C có hành vi cất giấu 1,480 gam ma túy MDMA và 1,230 gam ma túy Ketamine, mục đích để bán, thì bị phát hiện, bắt quả tang, cùng vật chứng.
Viện kiểm sát quận H đã truy tố bị cáo Nguyễn Phú C về tội: Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
. Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý các chất ma tuý của nhà nước gây mất trật tự trị an, gây bất bình và tâm lý lo lắng cho những người dân trong khu vực. Ma tuý đang là mối hiểm họa của toàn xã hội nên Nhà nước đã có nhiều chính sách từ tuyên truyền, vận động đến chế tài xử lý nghiêm khắc mọi hành vi liên quan đến ma tuý. Bị cáo đang ở độ tuổi lao động và cống hiến nhưng với lối sống buông thả đã sớm đi vào con đường vi phạm pháp luật, không chịu lao động chân chính giúp ích cho bản thân gia đình. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo thành người tốt.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với hành vi của bị cáo, cụ thể:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có, tuy nhiên Bị cáo Nguyễn Phú C có nhân thân xấu, ngày 08/3/2019 và ngày 05/7/2021 UBND xã TP, huyện Q có Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đến 02 lần, nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học để cảnh tỉnh bản thân, do vậy cần có mức hình phạt thỏa đáng, để cải tạo, giáo dục bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy, 01 (một) chiếc khẩu trang màu trắng bên trong có: 01 (một) túi nilon kích thước (03x03) cm, chứa tinh thể màu trắng và 03 (ba) viên nén màu vàng đã thu giữ là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng, sim số thuê bao 0776430403, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Phú C là chiếc điện thoại dùng để liên lạc mua ma tuý, cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
. Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc Ma túy: Nguyễn Phú C khai mua của một đối tượng tên “S” (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ) có số điện thoại 0971459871, tại khu vực Cầu vượt Bắc - Nam, huyện Q, thành phố H. Quá trình điều tra xác định số điện thoại liên hệ mua bán ma túy với Ca chủ thuê bao là Trần Hữu Q (Sinh năm: 1999, trú tại: thôn Đ, xã ĐT, huyện Q, thành phố H), anh Q khai từ năm 2017 anh Q có sử dụng số điện thoại trên nhưng sau 01 năm, anh Q bị mất điện thoại và số thuê bao trên. Từ đó đến nay anh không sử dụng số sim này, ai sử dụng thì anh không biết.
Đối với người hỏi mua ma túy của Nguyễn Phú C ngày 01/01/2022, C không biết rõ nhân thân có sử dụng số điện thoại liên hệ 0879831949. Kết quả xác minh xác định chủ thuê bao là Đinh Văn T (Sinh năm: 1979, địa chỉ: xã TS, huyện K, tỉnh H). Anh T cung cấp chưa bao giờ đăng ký thuê bao và sử dụng số điện thoại này, ai sử dụng thì anh không biết.
Ngoài lời khai của C về người bán và mua ma túy không có tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.
Đối với Vũ Đức C (Sinh năm 1991, HKTT: thôn P, xã VC, huyện H, thành phố H) là người điều khiển chiếc xe ôtô nhãn hiệu Huyndai Grand, màu vàng, BKS 30F- 782.59 chở Nguyễn Phú C đi từ khu vực khu vực Cầu vượt Bắc - Nam, huyện Q, thành phố H đến quận H. Kết quả điều tra xác định: khi anh C chở C anh C không biết C mang theo ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Vũ Đức C.
. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục I, Danh mục án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Phú C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
.Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 1 Mục I, Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phú C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/01/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì của Công an Thành phố H tại các mép dán có chữ ký của Nguyễn Phú C, cán bộ công an Trần Xuân S và giám định viên Trần Ngọc C.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, sim số thuê bao 0776430403, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Phú C là chiếc điện thoại C dùng để liên lạc mua ma tuý (Tình trạng vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận H theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/5/2022).
4. Về án phí: buộc bị cáo Nguyễn Phú C phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - TAND TP H; - VKSND quận H; - CA quận H; - THA quận H; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đào Duy Vương THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |