vanban.org

Bản án 101/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 09/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 6 năm 2022. Về xử lý vật chứng: tịch thu và tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong ghi số 318/PC09 có dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương khối lượng mẫu niêm phong: M… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2022/HS-ST
Ngày: 09-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Xuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Tấn Bình;

Ông Nguyễn Quốc Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần có: ông Đinh Văn H - Cán bộ Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an huyện B, tỉnh Bình Dương.

Ngày 09 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai (trực tuyến) tại các điểm cầu:

+ Điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử hình sự - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.

+ Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ - Công an huyện B.

Đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1994 tại Bình Phước; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp V I, xã T, thị xã C, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Lê Thị G; tiền án: không; tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 05/QĐ-TA ngày 11 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bình Phước đối với Nguyễn Văn H, thời gian chấp hành là 20 tháng, đã chấp hành xong ngày 15 tháng 9 năm 2021; bị bắt, tạm giữ ngày 28 tháng 6 năm 2022, đến ngày 07 tháng 7 năm 2022 tạm giam, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1980; nơi cư trú: số nhà 216, tổ 7, khu phố 3, thị trấn C, thị xã C, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Nguyễn Văn H là đối tượng nghiện ma túy tổng hợp từ cuối năm 2018, đến tháng 02 năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bình Phước ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng. Sau khi chấp hành xong, H trở về địa phương sinh sống, đến đầu năm 2022 H tiếp tục sử dụng ma túy tổng hợp. Nguồn ma túy để sử dụng do H trực tiếp mua của nhiều người khác nhau ở khu vực chợ L, thị xã C.

Vào khoảng 00 giờ ngày 28 tháng 6 năm 2022, H điều khiển xe mô tô biển số 93B1-133.64 từ nhà của H ở ấp Hòa Vinh I, xã T, thị xã C đến khu vực chợ L, thị xã C gặp một người phụ nữ tên Th (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 200.000 đồng được một gói ma túy tổng hợp đựng trong gói ni lông hàn kín để sử dụng. Mua xong, H bỏ gói ma túy vào gói thuốc lá hiệu Jet rồi cất vào túi quần bên trái H đang mặc. Đến hơn 03 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô xuống khu vực ấp 1, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương mua thẻ cào điện thoại. Khi H định quay về thì bị lực lượng Công an xã T kiểm tra hành chính, phát hiện số ma túy trên nên tiến hành bắt giữ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H thừa nhận sự việc phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị V không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo H đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về các vấn đề khác của vụ án:

Theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 28 tháng 6 năm 2022, Công an xã T đã thu giữ của bị cáo H: 01 gói ni lông hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô Yamaha Sirius biển số: 93B1-133.64, số máy: 5C6K-178427, số khung: RLCS5C6K0EY178427.

Theo Kết luận giám định số 318/KL-KTHS ngày 05 tháng 7 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: mẫu tinh thể trắng, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,1009 gam.

Đối với 0,0336 gam ma túy loại Methamphetamine sau giám định, xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

Đối với xe mô tô biển số 93B1-133.64: quá trình điều tra xác định xe mô tô này do chị V đứng tên chủ sở hữu; chị V đã bán cho H vào cuối năm 2019, khi bán không có giấy tờ mua bán; nay chị V không có yêu cầu gì trong vụ án. Ngày 01 tháng 9 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng tiến hành trả xe mô tô này cho bị cáo H là đúng quy định pháp luật.

Đối với đối tượng tên Th, khi nào làm rõ nhân thân lai lịch sẽ xử lý sau.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên, bị cáo H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị V không có ý kiến gì về các vấn đề trên.

Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản Cáo trạng số 84/CT-VKS-BB ngày 06 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử quyết định:

Về mức hình phạt: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, 0,0336 gam ma túy loại Methamphetamine sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo H không tranh luận gì về quyết định truy tố và luận tội của của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng

[1.1] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị V vắng mặt tại phiên tòa nhưng không trở ngại cho việc giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

Danh bản và Chỉ bản của bị cáo do Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng thu thập trong quá trình điều tra không có mã vạch tại nơi dán mã vạch của Danh bản và Chỉ bản là không đúng theo biểu mẫu số 186 và biểu mẫu số 187 ban hành kèm theo Thông tư số 61/2017/TT-BCA ngày 14 tháng 12 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự nên cần khắc phục trong quá trình điều tra, truy tố những vụ án khác sau này.

Đối với các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án đã được Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình tố tụng, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng này là hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: khoảng 03 giờ ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại ấp 1, xã Trừ Văn T, huyện B, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,1009 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm thỏa mãn nhu cầu về sử dụng trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang.

Qua trưng cầu giám định chất ma túy, mẫu tinh thể màu trắng thu giữ của bị cáo H là ma túy, có khối lượng 0,1009 gam. Methamphetamine là chất ma túy quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nội dung bản Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Do bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam (0,1009 gam), Cáo trạng đã truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm lớn cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn về ma túy và các tệ nạn xã hội khác, gây nhức nhối cho mỗi gia đình và toàn xã hội. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn cần thiết.

Để thỏa mãn nhu cầu về sử dụng trái phép chất ma túy mà bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép Methamphetamine. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, ngang nhiên đưa ma túy vào đời sống xã hội, gây khó khăn cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm của Nhà nước ta; đồng thời còn ảnh hưởng đến sức khỏe của chính bị cáo. Bị cáo có 01 tiền sự do bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đến nay vẫn tái nghiện. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử quyết định xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt tù đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Hội đồng xét xử quyết định cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

Xe mô tô biển số 93B1-133.64 đã trả lại cho bị cáo H, xét phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu và tiêu hủy vật chứng là vật cấm tàng trữ, lưu hành là chất ma túy Methamphetamine trong 01 bì thư được niêm phong ghi số 318/PC09 có dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương khối lượng mẫu niêm phong: M = 0,0336 gam Methamphetamine.

Đối tượng tên Th, khi nào làm rõ nhân thân lai lịch cụ thể sẽ xử lý sau.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm a khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136 và khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 6 năm 2022.

Về xử lý vật chứng: tịch thu và tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong ghi số 318/PC09 có dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương khối lượng mẫu niêm phong: M = 0,0336 gam Methamphetamine.

(Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B).

Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ