vanban.org

Bản án 101/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Minh G.

Về nuôi con chung: Giao 02 (hai) cháu Phạm Thị Yến L, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2010 và Phạm Hoàng R, sinh ngày 03 tháng 11 năm 2013 cho chị Nguyễn Thị M tiếp tục nuôi dưỡng, anh Phạm Minh G không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Phạm Minh G có quyền tới lui trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn, nuôi con giữa Chị Nguyễn Thị M - Anh Phạm Minh G"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Minh G.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 101/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 09-9-2022
V/v: Ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trƣơng Tấn Đồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Phẩm

2. Ông Dƣơng Sinh Huy

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Phụng, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2022/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2022 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1990; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; chổ ở hiện nay ấp P, xã U, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Phạm Minh G, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 25 tháng 4 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày: Vào năm 2008, chị và anh G kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long ngày 07 tháng 5 năm 2008. Chị M cho rằng sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng đến đầu năm 2022 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, dẫn đến thường xuyên gây cãi. Từ đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được nên chị đã về nhà cha mẹ ruột sống và hai người đã ly thân từ đó đến nay. Chị M xác định hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh G.

Về nuôi con chung chị M xác định chị và anh G có 02 (hai) người con chung là Phạm Thị Yến L, sinh ngày 05/8/2010 và Phạm Hoàng R, sinh ngày 03/11/2013, hiện đang sống với chị. Khi ly hôn chị M yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng Yến Linh và Hoàng Phi. Chị M không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình chị M đã cung cấp cho Tòa án Giấy chứng nhận kết hôn số: 47, Quyển số: 01/2008, ngày 07 tháng 5 năm 2008 (bản chính) và 02 (hai) giấy khai sinh mang tên Phạm Thị Yến L và Phạm Hoàng R (bản photo có chứng thực).

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho bị đơn anh G biết việc thụ lý vụ án cũng như các yêu cầu của chị M. Nhưng anh G không có văn bản trả lời, không có yêu cầu phản tố và vắng mặt tại các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải các ngày 26 tháng 5 năm 2022; ngày 16 tháng 6 năm 2022; phiên tòa ngày 22 tháng 8 năm 2022 và phiên tòa ngày hôm nay. Mặc dù đã được tống đạt triệu tập hợp lệ.

Tại bản khai ý kiến cùng ngày 25 tháng 4 năm 2022, các cháu Phạm Thị Yến L và Phạm Hoàng R trình bày: Trường hợp cha mẹ các cháu phải ly hôn thì các cháu yêu cầu được sống với mẹ và không yêu cầu cha cấp dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Các đương sự tranh chấp ly hôn, về nuôi con là tranh chấp hôn nhân và gia đình; bị đơn anh G có nơi cư trú tại xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, mặc dù đã được tống đạt triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn anh G đều vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh G là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Vào năm 2008, chị M và anh G kết hôn. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long ngày 07 tháng 5 năm 2008. Vì vậy hôn nhân của chị M và anh G là hợp pháp.

Xét; việc chị M cho rằng quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, dẫn đến thường xuyên gây cãi. Từ đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trâm trọng, không khắc phục được. Mặc dù đã được gia đình hòa giải nhiều lần để cho hai người đoàn tụ chung sống với nhau nhưng không có kết quả. Hơn nữa, hiện nay chị M xác định chị không còn tình cảm với anh G và hai người đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh G đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc chị M yêu cầu được ly hôn với anh G là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 9, 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

Về nuôi con chung: Xét; Từ khi chị M và anh G ly thân đến nay thì hai cháu Phạm Thị Yến L và Phạm Hoàng R do chị M nuôi dưỡng, các cháu vẫn sống, phát triển và trưởng thành bình thường. Đồng thời, hiện nay hai cháu Phạm Thị Yến L và Phạm Hoàng R cũng có nguyện vọng muốn được sống với mẹ. Vì vậy, xét việc chị M yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu Phạm Thị Yến L và Phạm Hoàng R và không yêu cầu chị Phụng cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

Về chia tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét.

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 9; 51; 56; 81; 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Minh G.

2. Về nuôi con chung: Giao 02 (hai) cháu Phạm Thị Yến L, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2010 và Phạm Hoàng R, sinh ngày 03 tháng 11 năm 2013 cho chị Nguyễn Thị M tiếp tục nuôi dưỡng, anh Phạm Minh G không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Phạm Minh G có quyền tới lui trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0007074 ngày 26 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít, như vậy chị Nguyễn Thị M không phải nộp thêm tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hh án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ