vanban.org

Bản án 101/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh M.

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Minh M được ly hôn bà Đỗ Thị N. Giấy chứng nhận kết hôn số 80 quyển số 01/2006 ngày 10/10/2006 của Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án 101 Nguyễn Minh M-Đỗ Thị N (P)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 23-8-2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hoàng Tiến

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 330/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Minh M, sinh năm 1984; Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Đỗ Thị N, sinh năm 1983; ấp V, xã N, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 22/3/2022 nguyên đơn ông Nguyễn Minh M trình bày:

- Về hôn nhân: Ông và bà Đỗ Thị N kết hôn năm 2006, hôn nhân do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn ngày 10/10/2006 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên bất hòa, cự cãi, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, ông bà không còn sống chung từ năm 2016 đến nay. Hiện nay ông không còn tình cảm với bà N nên yêu cầu được ly hôn với bà N.

- Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Đỗ Kim A, sinh ngày 25/10/2008. Sau khi ly hôn theo nguyện vọng của con sống với ai thì người đó nuôi.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/7/2022 bị đơn bà Đỗ Thị N trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Minh M kết hôn năm 2006, hôn nhân do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn ngày 10/10/2006 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng bà sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà và ông M bất đồng về nhiều mặt, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, bà và ông M không còn sống chung từ năm 2013 đến nay. Trước yêu cầu ly hôn của ông M thì bà đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Đỗ Kim A, sinh ngày 25/10/2008. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông M cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có.

* Tại biên bản ghi nhận ý kiến con chung ngày 18/7/2022 cháu Nguyễn Đỗ Kim A trình bày nguyện vọng được sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn để ổn định việc học

* Tại phiên tòa:

- Ông Nguyễn Minh M và bà Đỗ Thị N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, không có văn bản thay đổi ý kiến đã trình bày trong quá trình tố tụng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ông M được ly hôn với bà N, bà N được quyền nuôi con chung, ông M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

1.1 Quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa ông Nguyễn Minh M và bà Đỗ Thị N là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2 Thẩm quyền giải quyết: bà Đỗ Thị N đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp V, xã N, huyện C, tỉnh An Giang. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

1.3 Về sự có mặt của đương sự: Ông Nguyễn Minh M và bà Đỗ Thị N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung tranh chấp:

2.1 Về hôn nhân: Ông Nguyễn Minh M và bà Đỗ Thị N kết hôn năm 2006, hôn nhân do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn ngày 10/10/2006 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh An Giang nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Xét về nguyên nhân mâu thuẫn ông Nguyễn Minh M trình bày sau khi kết hôn vợ chồng ông bà sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Hiện nay ông M và bà N đã không còn sống chung với nhau, ông M không còn tình cảm với bà N nên yêu cầu được ly hôn. Bà Đỗ Thị N trình bày vợ chồng bà sau khi kết hôn sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông bà bất đồng nhiều mặt trong cuộc sống nên giữa bà và ông M thường xuyên bất hòa, cự cãi. Hiện nay bà không còn tình cảm với ông M nên đồng ý yêu cầu ly hôn của ông M. Như vậy hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông M.

2.2 Về con chung: Ông Nguyễn Minh M và bà Đỗ Thị N có một con chung tên Nguyễn Đỗ Kim A, sinh ngày 25/10/2008, hiện cháu A do bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Bà N yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông M cấp dưỡng, cháu A cũng có nguyện vọng được sống chung với mẹ để ổn định việc học. Hội đồng xét xử nhận thấy hiện nay cháu A còn nhỏ, để tránh làm xáo trộn đời sống, ảnh hưởng đến việc học của cháu nên căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N được tiếp tục nuôi dưỡng cháu A.

2.3 Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Đỗ Thị N có ý kiến không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung nên hội đồng xét xử không xem xét.

2.4 Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Ông M là nguyên đơn nên phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh M.

1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Minh M được ly hôn bà Đỗ Thị N.

Giấy chứng nhận kết hôn số 80 quyển số 01/2006 ngày 10/10/2006 của Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Bà Đỗ Thị N được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Đỗ Kim A, sinh ngày 25/10/2008.

Ông Nguyễn Minh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Minh M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002589 ngày 28/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

4. Quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Minh M và bà Đỗ Thị N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ