vanban.org

Bản án 101/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê K I và anh Tô Văn Nh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 24-5-2022
V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Ngọc Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tấn Lộc

2. Bà Bùi Thị Thu Thảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 24 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 82/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2022 về việc tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê K I, sinh năm 1981 (Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp Nh, xã Tr, huyện C, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Tô Văn Nh, sinh năm 1979 (Vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp Nh, xã Tr, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 08/02/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Lê K I trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Tô Văn Nh kết hôn vào năm 1999, hôn nhân tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống chị và anh Nh thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh Nh thường xuyên đánh đập chị, vì hạnh phúc gia đình chị đã nhiều lần bỏ qua nhưng anh Nh không thay đổi. Chị và anh Nh đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nay, chị nhận thấy không thể tiếp tục duy trì hôn nhân giữa chị và anh Nh được nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tô Văn Nh.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chị và anh Tô Văn Nh có 02 (Hai) người con chung tên: Tô Nhựt B, sinh ngày 30/01/1999 và Tô Nhựt Ư, sinh ngày 15/10/2009; hiện các con đang sống với anh Nh và ông bà nội. Sau khi ly hôn, cháu Tô Nhựt B đã trưởng thành, không mất năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động để tự nuôi mình nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết; còn đối với cháu Tô Nhựt Ư cháu có nguyện vọng theo cha hoặc mẹ thì người đó nuôi dưỡng, chăm sóc; không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống chị và anh Tô Văn Nh không có tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ thu, nợ trả: Trong thời gian chung sống chị và anh Tô Văn Nh không có nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng anh chị, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn là anh Tô Văn Nh được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, đã hết thời hạn theo quy định pháp luật mà anh Nh không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu ly hôn của chị Lê K I. Đồng thời, Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ hai lần thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chỉ có nguyên đơn là chị Lê K I có mặt theo triệu tập của Tòa án, bị đơn là anh Tô Văn Nh vắng mặt không lý do nên không tiến hành hòa giải được, cũng như nghe ý kiến của anh Nh về yêu cầu ly hôn của chị I.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Quan hệ tranh chấp giữa chị Lê K I và anh Tô Văn Nh là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Xin ly hôn”, bị đơn có nơi cư trú tại ấp Nh, xã Tr, huyện C, tỉnh Cà Mau nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng nguyên đơn là chị Lê K I vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Tô Văn Nh vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Tô Văn Nh theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê K I và anh Tô Văn Nh tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1999, đến nay chưa đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền.

Theo chị Lê K I trình bày thì trong thời gian chung sống chị và anh Nh thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh Nh thường xuyên đánh đập chị, chị đã nhiều lần bỏ qua nhưng anh Nh không thay đổi, chị và anh Nh đã chính thức sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay; nay, chị nhận thấy không thể tiếp tục duy trì hôn nhân giữa chị và anh Nh được nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tô Văn Nh. Đối với anh Tô Văn Nh, trong quá trình tố tụng anh Nh không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị I; như vậy, anh Nh đã từ bỏ quyền chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời không có thiện chí hàn gắn cuộc hôn nhân đối với chị I. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị Lê K I và anh Tô Văn Nh đã không còn, chị I cương quyết ly hôn, anh Nh không có thiện chí hàn gắn, cả hai đã thống nhất sống ly thân, bỏ mặc, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, điều này cho thấy hôn nhân giữa chị I và anh Nh đã không còn hạnh phúc và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; mặt khác, chị I và anh Nh chung sống với nhau từ năm 1999 đến nay không đăng ký kết hôn nên căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân của chị I và anh Nh không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Về con chung: Theo chị Lê K I trình bày thì trong thời gian chung sống chị và anh Tô Văn Nh có 02 (Hai) người con chung tên: Tô Nhựt B, sinh ngày 30/01/1999 và Tô Nhựt Ư, sinh ngày 15/10/2009; hiện các con đang sống với anh Nh và ông bà nội; sau khi ly hôn, cháu Tô Nhựt B đã trưởng thành, không mất năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động để tự nuôi mình nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết; còn đối với cháu Tô Nhựt Ư cháu có nguyện vọng theo cha hoặc mẹ thì người đó nuôi dưỡng, chăm sóc. Xét thấy, cháu Tô Nhựt B đã trưởng thành, không mất năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động để tự nuôi mình nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét; còn đối với cháu Tô Nhựt Ư, cháu Ư có nguyện vọng được sống với cha và ông bà nội (Tại Biên bản ghi ý kiến trình bày của cháu Ư ngày 12/4/2022), theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì con từ đủ 07 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến tự nguyện của cháu Ư, giao cháu Ư cho anh Nh tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu Ư đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ thu, nợ trả: Đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 28, 35, 39, 91, 147, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình;

- Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê K I và anh Tô Văn Nh.

2. Về con chung: Giao con chung tên Tô Nhựt Ư, sinh ngày 15/10/2009 cho anh Tô Văn Nh tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu Ư đủ 18 tuổi.

Chị Lê K I có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh Tô Văn Nh.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về tài sản chung: Đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Về nợ thu, nợ trả: Đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

6. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Lê K I phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị I đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007768 ngày 10 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Chị Lê K I và anh Tô Văn Nh vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ