- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Vũ Ph.
- Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 101/2022/DS-ST Ngày: 22-6-2022 V/v hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
- Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Bờ
Ông Nguyễn Hoàng Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu – kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 65/2022/TLST-DS, ngày 08 tháng 4 năm 2022 về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2022/QĐST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 131/2022/QĐST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Cao Vũ Ph, sinh năm 1981; Địa chỉ: tổ 30, ấp BH 2, xã BM, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Địa chỉ hiện nay: ấp Bình Hoà, thị trấn Cái Dầu, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. có đơn xin vắng mặt
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960; Nơi cư trú: ấp BH 2, xã BM, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Vắng mặt
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960; Nơi cư trú: ấp BH 2, xã BM, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 3 năm 2022 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn ông Cao Vũ Ph trình bày:
Ông và bà T quen biết nhau do ông là chủ hụi, bà T là hụi viên. Bà T chơi hụi cùng ông cũng một thời gian, bà cũng đóng hụi đầy đủ nên ông tin tưởng.
Vào ngày 20/11/2019, ông có cho bà T vay số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Thời hạn vay từ ngày 20/11/2019 đến ngày 20/4/2020, lãi suất thỏa thuận 4%/tháng, lãi đóng hàng tháng, vốn trả 01 lần khi đến hạn.
Khi vay 02 bên có làm biên nhận ngày 20/11/2019, biên nhận do bà Nguyễn Thị Liễu viết dùm do chữ nghĩa của ông và bà T ít nên nhờ bà Liễu viết dùm, nhà bà Liễu gần nhà ông và bà Liễu đã từng viết biên nhận cho bà T vay trước đó vài ngày. Biên nhận có chữ ký của bà T, số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) ông giao cho bà T 01 lần tại nhà của ông, có sự chứng kiến của bà Liễu, sau khi viết biên nhận và ký tên đầy đủ thì ông mới giao tiền cho bà T. Bà T có kiểm đếm lại với sự chứng kiến của bà Liễu và ông. Ngoài ra, ông không có giữ bất kỳ tài sản hay nhận biện pháp bảo đảm nào từ bà T.
Tuy nhiên, cho đến nay bà T vẫn không đóng lãi hay trả vốn lần nào. Dù ông đã nhiều lần tìm kiếm và đến nhà bà T nhắc nhở nhưng phía bà T còn hăm doạ và thách thức đi thưa kiện. Do thời điểm đó bà T bể nợ nhiều người nghĩ có đòi cũng chưa trả cho ông ngay lúc đó được và khi đó gia đình ông có tang cha, tang mẹ và dịch bệnh nhiều nên ông vẫn chỉ nhắc bà T mà chưa khởi kiện cũng không có làm đơn yêu cầu chính quyền địa phương hoà giải.
Nay bà T vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên ông khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị T trả bà số tiền vốn vay 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) và yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật kể từ 20/11/2019 cho đến ngày giải quyết xong vụ án.
Về án phí: Theo quy định của pháp luật.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị T vắng mặt không tham gia phiên họp và không gửi tự khai trình bày ý kiến do đó không ghi nhận được ý kiến của của bà T.
- Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành giấy triệu tập của Toà án là vi phạm điều 70 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015
+ Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà T có nghĩa vụ trả cho ông Ph vốn vay 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày 20/4/2020 đến ngày xét xử với mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết: Ông Cao Vũ Ph khởi kiện về hợp đồng vay tài sản đối với bà Nguyễn Thị T có địa chỉ cư trú tại huyện Châu Phú nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo qui định tại Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T là phù hợp với qui định pháp luật tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án:
Ông Ph căn cứ vào biên nhận nợ ngày 20/11/2019, khởi kiện yêu cầu bà T về hợp đồng vay tài sản đối với số tiền vốn vay là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Tòa án đã thực hiện, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà T để bà thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và chứng cứ của nguyên đơn. Tuy nhiên bà từ chối nhận các văn bản tố tụng và bà vắng mặt không tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử và không gửi văn bản trình bày ý kiến, xem như bà tự từ bỏ quyền lợi của bản thân cũng như không bác bỏ yêu cầu khởi kiện và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.
Theo biên nhận nợ ngày 20/11/2019 có chữ ký và chữ viết tên của người hỏi mượn là Nguyễn Thị T, nội dung biên nhận “tôi tên Nguyễn Thị T, sinh ngày 22 tháng 10 năm 1969. Nơi cư trú: ấp BH 2, xã BM, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Nay tôi có hỏi mượn tiền của ông Ph, ông Cao Vũ Ph sinh năm 1981 cư ngụ cùng ấp, xã, huyện, tỉnh. Số tiền tôi hỏi mượn ông Ph là 100.000.000 (đọc là một trăm triệu đồng chẵn). Kể từ ngày tôi mượn đến ngày trả tôi hứa sẽ trả. Nếu có gì tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Kể từ ngày 20/11/2019 đến ngày 20/4/2020 tôi sẽ trả. Người mượn Tuyết – Nguyễn Thị T; Người làm chứng Nguyễn Thị Liễu; Người đưa tiền Cao Vũ Ph”.
Đồng thời, theo biên bản lấy lời khai ngày 09/5/2022 người làm chứng Nguyễn Thị Liễu xác định: bà là người viết biên nhận ngày 20/11/2019, do ông Ph nhờ bà viết và làm chứng dùm, bà chứng kiến việc ông Ph cho bà T vay số tiền 100.000.000 đồng, việc giao nhận tiền và làm biên nhận được thực hiện tại nhà ông Ph. Bà T không có ý kiến và không bác bỏ đối với chứng cứ do ông Ph cung cấp cũng như lời trình bày của người làm chứng.
Hội đồng xét xử căn cứ vào biên nhận nợ ngày 20/11/2019 và lời khai của người làm chứng Nguyễn Thị Liễu, xét thấy đã có đủ cơ sở để xác định giữa ông Ph và bà T có xác lập giao dịch hợp đồng vay tài sản, việc giao dịch này phù hợp với qui định pháp luật làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015. Theo biên nhận thì hợp đồng vay giữa ông Ph và bà T là hợp đồng vay có thời hạn, “kể từ ngày 20/11/2019 đến ngày 20/4/2020 tôi sẽ trả”. Tuy nhiên khi đến hạn trả và cho đến nay, bà T vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay đối với hợp đồng vay do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ph buộc bà T có nghĩa vụ trả cho ông Ph số tiền vốn vay là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
Về tiền lãi: Ông Ph cho rằng lãi suất thoả thuận là 4%/tháng nhưng bà T chưa đóng lãi lần nào và nay yêu cầu tính lãi từ ngày 20/11/2019 cho đến nay với mức lãi suất quy định pháp luật. Tuy nhiên, biên nhận nợ không thể hiện thoả thuận về lãi suất và nay không có sự thừa nhận của bà T rằng đây hợp đồng vay có lãi. Do đó, căn cứ vào biên nhận ngày 20/11/2019 Hội đồng xét xử xác định đây là hợp đồng có thời hạn nhưng không có lãi.
Nay căn cứ vào khoản 4 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về lãi của ông Ph, cụ thể buộc bà T trả tiền lãi đối với số tiền vốn vay 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) tính từ ngày đến hạn trả nợ là ngày 20/4/2020 cho đến ngày xét xử với mức lãi suất 10%/năm, cụ thể:
100.000.000 đồng x 10%/năm x 02 năm 02 tháng 02 ngày = 21.720.000 đồng (hai mươi mốt triệu, bảy trăm hai mươi ngàn đồng)
Như vậy, tổng số tiền bà T có nghĩa vụ trả cho ông Ph là: 100.000.000 đồng + 21.720.000 đồng = 121.720.000 đồng (một trăm hai mươi mốt triệu, bảy trăm hai mươi ngàn đồng)
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ông Ph được chấp nhận do đó ông Ph không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Ph tạm ứng án phí đã nộp. Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Vũ Ph. Buộc bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ trả cho ông Cao Vũ Ph số tiền 121.720.000 đồng (một trăm hai mươi mốt triệu, bảy trăm hai mươi ngàn đồng), trong đó tiền vốn vay là 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng) và tiền lãi là 21.720.000 đồng (hai mươi mốt triệu, bảy trăm hai mươi ngàn đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị T phải chịu 6.086.000 đồng (sáu triệu, không trăm tám mươi sáu ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho ông Cao Vũ Ph số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu, năm trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003639 ngày 08/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
Ông Cao Vũ Ph và bà Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú; - Lưu; hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Chủ tọa phiên tòa Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Thẩm phán THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Cẩm Hường |