vanban.org

Bản án 101/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 30/07/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nH: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hvà anh Nguyễn Thế M.

Về con chung: 1. Giao con chung cháu Nguyễn Thị Gia H sinh ngày 01/6/2016 cho chị Nguyễn Thị Htrực tiếp nuôi dưỡng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nH: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hvà anh Nguyễn Thế M.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 53 Luật Hôn nH và gia đình
TÒA ÁN NH DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 7 - 2021
V/v Tranh chấp hôn nH và gia đình.

NH DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH DÂN TỈNH NGHỆ AN

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Ph

Các Hội thẩm nH dân:

Ông Hồ Bá V

Ông Trần Xuân Th

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc M - Thư ký Tòa án nH dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nH dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Ch - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nH dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 15/2021/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2021 về Tranh chấp hôn nH và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2021/QĐST ngày 18 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H , sinh năm 1995; Địa chỉ: Xóm 11, xã V, huyện N, tỉnh Nghệ An. Đề nghị vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thế M , sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Xóm 11, xã Vỹ, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại: Đài Loan – Trung Quốc. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 30/11/2020, lời khai chị Nguyễn Thị Htrình bày: Chị H và anh Nguyễn Thế Mkết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký ngày 19/11/2015 tại Ủy ban nH dân V, huyện V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn hai người chung sống hạnh phúc với nhau được 08 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nH mâu thuẫn là do quan điểm sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, nên thường xuyên xung đột. Đến tháng 12/2018 anh M tiếp tục xuất cảnh đi nước ngoài và hai người cắt đứt mọi liên lạc, không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay xác định, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nH không đạt được, nên chị H yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn anh Nguyễn Thế Mđể giải phóng cho chị.

- Về con chung: Chị H và anh Nguyễn Thế Mcó một con chung cháu Nguyễn Thị Gia H sinh ngày 01/6/2016, hiện đang do chị H chăm sóc. Nếu ly hôn chị H xin được nuôi cháu, không yêu cầu anh M cấp dưỡng.

- Về tài sản chung; nợ chung: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía anh Nguyễn Thế M: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng…cho anh Nguyễn Thế Mthông qua ông Nguyễn Thế Linh và bà Chu Thị Yến là bố mẹ của anh M, nhưng hiện anh Nguyễn Thế Mvắng mặt và cũng không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nH dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ và đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của họ. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, theo ông Nguyễn Thế L và bà Chu Thị Y cung cấp, thì anh Nguyễn Thế Mhiện cư trú tại Đài Loan – Trung Quốc, mặc dù không có nơi cư trú cụ thể, nhưng anh M thường xuyên liên lạc bằng điện thoại với ông Linh, bà Yến, nên anh M đã biết được việc chị H làm đơn ly hôn anh và không có ý kiến gì. Việc anh Nguyễn Thế Mvắng mặt được xác định, cố tình giấu địa chỉ và không khai báo, do đó đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định và cho họ ly hôn nhau và giao con chưa tHnh niên cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng; tài sản chung chưa giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nH dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Thế Mhiện đang ở nước ngoài, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, theo ông Nguyễn Thế L , bà Chu Thị Y xác định thì, anh Nguyễn Thế Mhiện đang cư trú tại Đài Loan – Trung Quốc. Mặc dù không biết nơi cư trú cụ thể, nhưng anh M thường xuyên liên lạc điện thoại với ông Linh, bà Yến nên anh M đã biết được việc chị H xin ly hôn anh và cũng không có ý kiến gì. Do đó, việc anh Nguyễn Thế Mvắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo theo quy định tại Công văn số 253/TATC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nH dân tối cao, hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài không rõ địa chỉ.

Đối với chị Nguyễn Thị Hđã có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, ngày 09/6/2021 chị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 207, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến Hnh giải quyết và xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

Về nội dung: Tại phiên tòa, mặc dù vắng mặt, nhưng chị Nguyễn Thị Hvẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện, yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thế Mvà nuôi con chưa tHnh niên. Xét thấy, chị Nguyễn Thị Hvà anh Nguyễn Thế Mkết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn hai người chung sống hạnh phúc với nhau được 08 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nH mâu thuẫn là do quan điểm sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, nên thường xuyên xung đột. Đến tháng 12/2018 anh M tiếp tục xuất cảnh đi nước ngoài và hai người cắt đứt mọi liên lạc, không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay chị Nguyễn Thị Hxác định, tình cảm vợ chồng không còn; mục đích hôn nH không đạt được, nên cần căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nH và gia đình giải quyết cho họ ly hôn để giải phóng cho chị H.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hvà anh Nguyễn Thế Mcó một con chung, cháu Nguyễn Thị Gia H sinh ngày 01/6/2016, hiện đang do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh M đang ở nước ngoài chưa có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung, nên cần giao cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là phù hợp. Về cấp dưỡng, hiện chị H chưa yêu cầu và anh M cũng chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Hiện tại chị H không yêu cầu giải quyết và anh Nguyễn Thế Mcũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hphải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 207; khoản 3 Điều 228; Điều 147; khoản 1, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 53, 56 và Điều 81, 82, 84 của Luật Hôn nH và gia đình. Tuyên xử:

1. Về hôn nH: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hvà anh Nguyễn Thế M.

2. Về con chung:

2.1. Giao con chung cháu Nguyễn Thị Gia H sinh ngày 01/6/2016 cho chị Nguyễn Thị Htrực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Hkhông yêu cầu và anh Nguyễn Thế Mchưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét. Anh Nguyễn Thế Mcó quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hphải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi Hnh án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0003925 ngày 01/02/2021.

5. Về quyền kháng cáo:

5.1. Chị Nguyễn Thị Hcó quyền kháng cáo lên Tòa án nH dân cấp cao tại H Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm.

5.2. Anh Nguyễn Thế Mđang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nH dân cấp cao tại H Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản sao bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ