vanban.org

Bản án 101/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Xuân, TP. Hà Nội Tuyên án 27/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2/ Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 32 (ba mươi hai) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TX
THÀNH PHỐ HN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2021/HS - ST
Ngày: 27/05/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TX

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng

Ông Đặng Như Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận TX.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận TX tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Xuân Minh Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 05 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận TX, thành phố HN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2021/HSST ngày 04.05.2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2021/QĐXXST-HS ngày 11.05.2021 đối với bị cáo có lý lịch như sau:

Họ và tên: Nguyễn Văn T; sinh ngày 14.6.1963; giới tính: nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 25, ngõ TC, TĐ, HBT, HN; Chỗ ở: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 4/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn T (đã chết); Con bà: Lê Thị T.

Tiền án, tiền sự: 01 tiền án:

Ngày 24.8.2011, Tòa án nhân dân quận HBT, thành phố HN xử phạt 8 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 06.02.2018.

Về nhân thân: 09 lần bị kết án đã được xóa án tích và 05 lần xử lý hành chính (đã xóa), cụ thể:

- Ngày 14/03/1980, Tòa án nhân dân quận HBT, HN xử phạt 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản riêng của công dân (đã xóa án tích)

- Ngày 14/05/1981, Tòa án nhân đan quận HBT, HN xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản riêng của công dân (không xác định giá trị tài sản, đã xóa án tích).

- Ngày 130/1/1983, Tòa án nhân dân quận HBT, HN xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản riêng của công dân (không xác định giá trị tài sản, đã xóa án tích).

- Ngày 06/11/1986, Tòa án nhân dân thành phố HN xử phạt 4 năm tù về tội Trộm cắp tài sản riêng của công dân (không xác định giá trị tài sản, đã xóa án tích).

- Ngày 29/02/1992, Tòa án nhân dân quận HBT, HN xử phạt 30 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (đã xóa án tích).

- Ngày 03/06/1996, Tòa án nhân dân thành phố HN xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản riêng của công dân (trị giá tài sản 500.000đ, đã xóa án tích).

- Ngày 09/06/1999, Tòa án nhân dân tỉnh HT xử phạt 4 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân (trị giá tài sản 520.000đ, đã xóa án tích).

- Ngày 12/10/2004, Tòa án nhân dân quận HM, HN xử phạt 40 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 01/12/2004, đã xóa án tích).

- Ngày 26/05/2008, Tòa án nhân dân quận HBT, HN xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 1.100.000đ, đã xóa án tích).

Tạm giữ: 22/01/2021; Tạm giạm: 28/01/2021; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1981, trú tại số 90, tổ 35, HVT, HM, HN (vắng mặt).

2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982, trú tại: số 90 tổ 35, HVT, HM, HN (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/01/2021, tổ công tác Công an phường KĐ, TX, HN làm nhiệm vụ, phát hiện Nguyễn Văn T điều khiển xe máy Honda Wave RSX, màu đỏ-đen, BKS 30K7/4186 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính tại khu vực trước số 20, ngõ 377, GP, PL, TX, HN. Quá trình kiểm tra, T nắm chặt bàn tay trái. Tổ công tác đã giữ tay trái của T rồi từ từ mở các ngón tay của bàn tay trái ra phát hiện có 01 gói nilon màu đen, bên trong có 02 gói giấy đều chứa chất bột màu trắng. T khai nhận đó là ma túy Heroin mang theo để tìm người mua thì sẽ bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong toàn bộ tang vật và đưa T cùng tang vật về trụ sở để giải quyết.

Cơ quan công an thu giữ của Nguyễn Văn T:

- 01 gói nilon màu đen bên trong có 02 gói giấy đều chứa chất bột màu trắng.

- 01 xe máy Honda Wave RSX, màu đỏ-đen, BKS 30K7-4186 đã qua sử dụng, SK: RLHJC4323AY 025493, SM: JC43E 5029137.

- 01 giấy đăng ký xe máy mang tên Nguyễn Văn M, BKS 30K7-4186.

- 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyễn xe máy số 2520050012567.

- Số tiền mặt 1.445.000 đồng.

- 01 điện thoại di động Samsung màu đen, đã qua sử dụng, kiểu máy GT-E1200Y, IMEI 359831/06/957649/9, bên trong lắp sim Vinaphone số seri 89840200010947470811, số thuê bao 0947937305.

Tại bản kết luận giám định số 1071/KLGĐ-PC09 ngày 28/01/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự công an thành phố HN kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy (được bọc ngoài bằng nilon đen) đều là ma túy loại Heroin khối lượng 0.218 gam.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 08 giờ ngày 22/01/2021, T đi đến khu vực trước Công viên TT, số 01 VTS, TN, HBT, HN mua 300.000đ tiền ma túy Heroin của 01 người đàn ông không quen biết để bán cho khách kiếm lời. Anh ta đưa cho T 02 gói giấy chứa Heroin được bọc bên ngoài bằng nilon đen. T cất gói ma túy vào túi áo khoác phía trong bên trái. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe máy Honda Wave RSX, màu đỏ-đen, BKS 30K7-4186 đến khu vực ngõ 377 Giải Phóng, Phương Liệt, TX, HN tìm khách bán kiếm lời. T dự định sẽ bán với giá 400.000đ, thu lời 100.000đ nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện, bắt giữ.

Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Văn T, do T khai không biết rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave RSX, màu đỏ-đen, BKS 30k7- 4186 đã qua sử dụng, SK: RLHJC4323AY 025493, SM: JC43E 5029137, qua điều tra xác định đăng ký xe máy mang tên anh Nguyễn Văn M (sinh năm 1981, trú tại số 90, tổ 35, phường HVT, quận HM, thành phố HN). Khoảng tháng 2/2020, anh M cho em trai là Nguyễn Văn T (sinh năm 1982, trú tại: số 90 tổ 35, HVT, HM, HN) mượn để sử dụng. Khoảng tháng 6/2020, anh T cho chú vợ là Nguyễn Văn T mượn để sử dụng. Chiếc xe máy không nằm trong dữ liệu xe tang vật. Anh T không biết T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Cơ quan điều tra chuyển chiếc xe máy cùng 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe máy số 2520050012567 đến Chi cục thi hành án dân sự quận TX để giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với số tiền 1.445.000 đồng và 01 điện thoại di động Samsung màu đen, đã qua sử dụng, kiểu máy GT-E1200Y, IMEI 359831/06/957649/9, bên trong lắp 01 sim Vinaphone số seri 898404000109470811, số thuê bao 0947937305, qua điều tra xác định là tài sản của Nguyễn Văn T, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra chuyển chiếc điện thoại cùng số tiền trên đến Chi cục thi hành án dân sự quận TX để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản cáo trạng số 88/CT-VKSTX ngày 04.05.2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận TX đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa hôm nay.

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo thừa nhận việc bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật và ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 32 đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt tiền; Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu hủy 0,218g ma túy herroin thu giữ của bị cáo; trả lại bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 1.445.000 đồng và 01 điện thoại di động Samsung màu đen, đã qua sử dụng, kiểu máy GT-E1200Y, IMEI 359831/06/957649/9; trả lại ông Nguyễn Văn M xe máy Honda Wave RSX, màu đỏ-đen, BKS 30k7- 4186 đã qua sử dụng, SK: RLHJC4323AY 025493, SM: JC43E 5029137, 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 002785 mang tên Nguyễn Văn M, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.

Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận TX, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận TX trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T đã được triệu tập đến phiên tòa nhưng vắng mặt, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22.01.2021, tại khu vực trước số nhà 20, ngõ 377, đường GP, phường PL, quận TX, thành phố HN, Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,218 gam ma túy heroin nhằm mục đích bán kiếm lời thì bị cơ quan công an kiểm tra phát hiện bắt giữ cùng toàn bộ tang vật.

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân quận TX truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội được Bộ luật hình sự quy định là hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo là người trưởng thành, nhận thức rõ tác hại nhiều mặt của ma túy đến sức khỏe và đời sống của con người, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy để mua bán trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đường lối giải quyết trên cơ sở đánh giá toàn diện nội dung vụ án:

3.1. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã có 01 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy theo bản án ngày 24.8.2011 của Tòa án nhân dân quận HBT, thành phố HN, chấp hành xong bản án ngày 06.02.2018 chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

3.3. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:

Tang vật của vụ án gồm:

- 01 gói nilon màu đen bên trong có 02 gói giấy đều chứa chất bột màu trắng.

- 01 xe máy Honda Wave RSX, màu đỏ-đen, BKS 30K7-4186 đã qua sử dụng, SK: RLHJC4323AY 025493, SM: JC43E 5029137.

- 01 giấy đăng ký xe máy mang tên Nguyễn Văn M, BKS 30K7-4186.

- 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyễn xe máy số 2520050012567.

- Số tiền mặt 1.445.000 đồng.

- 01 điện thoại di động Samsung màu đen, đã qua sử dụng, kiểu máy GT-E1200Y, IMEI 359831/06/957649/9, bên trong lắp sim Vinaphone số seri 89840200010947470811, số thuê bao 0947937305.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy : Một phong bì niêm phong dán kín niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Ngọc C ; đương sự Nguyễn Văn T ; cán bộ công an phường Lê Thế Avà đóng dấu của Công an phường KĐ, bên trong có 0,218 gam ma túy heroin (đã trích mẫu giám định 0,015 gam).

Trả lại ông Nguyễn Văn M: 01 xe máy kiểu dáng Honda Wave RSX, màu đỏ-đen, cũ đã qua sử dụng, biển kiểm soát 30K7-4186, số khung: RLHJC4323AY025493, số máy: JC43E5029137; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Văn M; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy số 2520050012567.

Trả lại bị cáo Nguyễn Văn T số tiền mặt 1.445.000 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu đen, cũ đã qua sử dụng, số IMEI 359831/06/957649/9, trong máy có lắp sim số thuê bao 0947937305.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2/ Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 32 (ba mươi hai) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22.01.2021.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy : Một phong bì niêm phong dán kín niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Ngọc C ; đương sự Nguyễn Văn T ; cán bộ công an phường Lê Thế A và đóng dấu của Công an phường KĐ, bên trong có 0,218 gam ma túy heroin (đã trích mẫu giám định 0,015 gam).

Trả lại ông Nguyễn Văn M: 01 xe máy kiểu dáng Honda Wave RSX, màu đỏ-đen, cũ đã qua sử dụng, biển kiểm soát 30K7-4186, số khung: RLHJC4323AY025493, số máy: JC43E5029137; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Văn M; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy số 2520050012567.

Trả lại bị cáo Nguyễn Văn T số tiền mặt 1.445.000 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu đen, cũ đã qua sử dụng, số IMEI 359831/06/957649/9, trong máy có lắp sim số thuê bao 0947937305.

Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận TX, thành phố HN theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25.5.2021 và ủy nhiệm chi ngày 21.5.2021.

4/ Án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng: Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.

Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ