vanban.org

Bản án 101/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đào Thị Hồng O xin ly hôn với ông Bùi Văn K.

Về nuôi con chung: Giao cháu Bùi Đào Tuấn H (nam) sinh ngày 08/10/2016 cho bà O trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Bùi Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về án phí: Bà Đào Thị Hồng O phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Bà O đã nộ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Thị Hồng Oanh - Bùi Văn Kiết"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đào Thị Hồng O xin ly hôn với ông Bùi Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2020/HNGĐ-ST
Ngày 21-12-2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ý

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Hữu Hiệp

Ông Đỗ Minh Lắm

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Ngày 21 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 288/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2020 về việc Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đào Thị Hồng O, sinh năm 1985 (vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Bùi Văn K, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp 15, xã K, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 21/9/2020, đơn yêu cầu ngày 23/11/2020, nguyên đơn bà Đào Thị Hồng O trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Bùi Văn K tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Vợ chồng chung sống đã có một đứa con nhưng trong cuộc sống hằng ngày vợ chồng luôn bất đồng ý kiến mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cự cãi giận dỗi, không quan tâm lo lắng cho nhau, không tôn trọng và nhường nhịn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt và trầm trọng không thể hàn gắn được nên vợ chồng ông bà đã ly thân từ tháng 7 năm 2018 cho đến nay. Nay bà nhận thấy rằng giữa bà và ông K không còn tình cảm, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên bà yêu cầu ly hôn với ông K.

Về con chung: Có 01 con chung tên Bùi Đào Tuấn H sinh ngày 08/10/2016 hiện do bà nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông K cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn trình bày ngày 24/11/2020, bị đơn ông Bùi Văn K trình bày:

Về hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà O. Về con chung: Ông và bà O có 01 con chung, ông đồng ý để cho bà O nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà O và ông K có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà O và ông K.

Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân: Bà O và ông Bùi Văn K tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau nên quan hệ hôn nhân giữa bà O và ông K là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Bà O yêu cầu được ly hôn với ông K vì vợ chồng bất đồng ý kiến, mâu thuẫn gay gắt, không thể chung sống với nhau được nữa, thực tế ông bà đã ly thân từ tháng 7 năm 2018. Ông K cũng thống nhất ly hôn với bà O. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa bà O và ông K đã trầm trọng, tình nghĩa vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà O về việc xin ly hôn với ông K.

Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Bùi Đào Tuấn H (nam) sinh ngày 08/10/2016 hiện do bà O nuôi dưỡng. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, bà O có nguyện vọng được nuôi con và ông K có văn bản trình bày ý kiến thống nhất giao con chung cho bà O nuôi dưỡng. Trên cơ sở ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự đồng thời có xem xét đến cuộc sống đã ổn định của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Bùi Đào Tuấn H cho bà O tiếp tục nuôi dưỡng. Ông K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về phần cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Bà O phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 53, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đào Thị Hồng O xin ly hôn với ông Bùi Văn K.

- Về nuôi con chung: Giao cháu Bùi Đào Tuấn H (nam) sinh ngày 08/10/2016 cho bà O trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Bùi Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về án phí: Bà Đào Thị Hồng O phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Bà O đã nộp tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0005226 ngày 07/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U, tỉnh Cà Mau được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bà O và ông K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai bản án.

Cỡ chữ