- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Viet P "Giữ người trái pháp luật" - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết P, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 40/2019/HS-ST ngày 18/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố L.
- Căn cứ chính? Điều 157 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101 /2019/HSPT Ngày: 10 / 10 / 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông La Hồng.
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Thanh Tâm;
Bà Nguyễn Thị Minh Phượng.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lâm Trí Nguyên, Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Đây, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự, thụ lý số 106/2019/HSPT ngày 31/7/2019, đối với bị cáo Nguyễn Viết P, phạm tội “Giữ người trái pháp luật” do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 40/2019/HS-ST ngày 18/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố L.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Viết P, sinh năm 1988, tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 34/5, khóm P, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết Ph1 (đã chết) và bà Ngô Thị Hồng L. Bị cáo chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Bảo Ng, sinh năm 1998; có 01 con sinh năm 2017; nhân thân: Nhỏ đến lớn sống chung với cha mẹ, đi học hết lớp 6 thì nghỉ. Ngày 28 tháng 9 năm 2010, bị Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản” đến ngày 26 tháng 01 năm 2013 chấp hành xong bản án. Ngày 27 tháng 9 năm 2013, bị Ủy ban nhân dân thành phố L áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An Giang thời hạn 24 tháng, đến ngày 07 tháng 8 năm 2015 chấp hành xong quyết định; tiền án: không; tiền sự: Ngày 16 tháng 10 năm 2017, bị Tòa án nhân dân thành phố L ra quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, chấp hành quyết định từ ngày 16 tháng 8 năm 2017 đến ngày 29 tháng 12 năm 2017 được gia đình bảo lãnh về chữa bệnh.
Bị tạm giam từ ngày 22/12/2018 đến nay; có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Bảo Ng, sinh năm 1998; nơi cư trú: số 1029/20, khóm Đông Thịnh 9, phường Mỹ Phước, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: + Ông Trần Thanh Th, sinh năm 1984; nơi cư trú: ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt. + Ông Lê Văn Q, sinh năm 1960; nơi cư trú: số 876/7C, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt. + Ông Lưu Hoàng Tr, sinh năm 1963; nơi cư trú: số 205/A, khóm 3, phường Láng Tròn, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, vắng mặt.
- Người làm chứng: + Bà Ngô Thị Hồng L, sinh năm 1940, vắng mặt; + Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1947, vắng mặt; + Bà Nguyễn Thị Bích Th, sinh năm 1977, vắng mặt; + Bà Phạm Thị Th1, sinh năm 1948, vắng mặt; + Bà Nguyễn Thị La Tr, sinh năm 1983, có mặt; + Ông Lê Thanh H, sinh năm 1982, vắng mặt; + Bà Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1991, vắng mặt; + Ông Nguyễn Thanh A, sinh năm 1973, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Viết P và chị Nguyễn Thị Bảo Ng chung sống như vợ chồng từ năm 2016 đến tháng 8 năm 2018 tại nhà của bà Ngô Thị Hồng L (mẹ ruột P) ở số 34/5, khóm P, phường M, thành phố L và có 01 con chung. Do nhiều lần bị P đánh đập nên Ng không chung sống với P và đem con về nhà bà Nguyễn Thị Bích Th (mẹ của Ng) ở phường M, thành phố L sinh sống. Khoảng 12 giờ 00 ngày 01 tháng 12 năm 2018, Ng mượn xe mô tô, loại Airblade, biển số 94R1-0567 của anh Trần Thanh Th đến thăm bà Ngô Thị Hồng L thì gặp P. P Bảo Ng đem con về sống chung với P nhưng Ng không đồng ý và cho biết Ng đã có bạn trai. Sau đó, Ng dẫn xe ra về thì bị P giữ lại đưa vào nhà lấy dao cạo hết tóc trên đầu, dùng cán len bằng gỗ, dây cáp bằng kim loại đánh vào tay, chân, đầu của Ng gây thương tích, dùng dây xích khóa chân trái của Ng vào vách nhà. Khi thấy P đánh, xích khóa chân Ng thì bà L khuyên can nhưng P không nghe nên bà L đến nhà chị Nguyễn Thị Tuyết H (con ruột bà L) tại phường Mỹ Phước để ở. Đến ngày 02 tháng 12 năm 2018, P tháo dây xích chân cho Ng và sử dụng dây xích này khóa cửa nhà không cho Ng ra ngoài. Đến khoảng 21 giờ 00 ngày 02 tháng 12 năm 2018, Nguyễn Văn L (cháu họ của P) nhìn thấy P đánh Ng nên báo cho bà Nguyễn Thị M (bà ngoại của Ng) biết. Bà Mến liền đến Công an phường M trình báo. Đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, lực lượng Công an phường M đến nhà bà L kêu cửa thì P tắt đèn dẫn Ng vào nhà bếp dọa đánh nên Ng không dám kêu cứu. Do không nghe người trong nhà lên tiếng nên Công an phường lập biên bản ghi nhận sự việc rồi ra về.
Đến ngày 06 tháng 12 năm 2018, do không thấy Ng về nhà nên bà Mến báo Cảnh sát 113 và Công an phường M. Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 06/12/2018, Cảnh sát 113 cùng Công an phường M đến nhà bà L phá khóa cửa rào vào nhà giải cứu Ng. Thấy vậy, P trèo lên nóc nhà trốn. Sau khi Công an phường M đưa Ng đi bệnh viện thì P lấy xe mô tô 94R1-0567 bỏ trốn. Đến ngày 07 tháng 12 năm 2018, P điều khiển xe mô tô 94R1-0567 đến để trước nhà trọ Huệ Thành 3 đối diện nhà P. Khoảng 04 giờ 00 ngày 07 tháng 12 năm 2018, bà Phạm Thị Thu thấy xe mô tô biển số 94R1-0567 dựng trước phòng trọ của bà nhưng không biết chủ sở hữu nên đem giao cho Công an phường M.
Vật chứng thu giữ tại nhà bà Ngô Thị Hồng L gồm: 01 dây xích dài 02m, 01 dây cáp vỏ nhựa màu trắng dài 1,36m, 01 cây len cán gỗ bị gãy dài 0,55cm, 01 ổ khóa bị gãy khoen và 01 xe mô tô biển số 67N6-8729.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 49/19/TgT ngày 05 tháng 3 năm 2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh An Giang đối với Nguyễn Thị Bảo Ng, sinh năm 1998, xác định: Sẹo đính trái kích thước 1.5 x 0.7cm, bầm máu vùng trán không tồn tại, bầm máu vai trái không tồn tại, bầm máu cánh tay trái không tồn tại. sưng nề vùng hông lưng phải không tồn tại, sưng nề bàn tay phải không tồn tại, sưng nề đùi trái không tồn tại, sưng nề mặt trong gối trái không tồn tại, sưng nề cẳng chân trái không tồn tại, sẹo gối phải kích thước 02 x 0.5cm; Tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là: 02%.
Kết luận giám định số 15/KLGT-PC09 ngày 14 tháng 3 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, xác định: Xe mô tô có gắn biển số 94R1-0567, có số khung, số máy bị đục sửa.
Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 20/KL.HĐ ngày 01 tháng 3 năm 2019 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L, xác định: 01 điện thoại di động hiệu Samsung do không đầy đủ thông tin về tài sản nên không có cơ sở để xác định giá trị.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2019/HS-ST ngày 18/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố L đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 157, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết P phạm tội “Giữ người trái pháp luật”;
Xử phạt: Nguyễn Viết P 05 (Năm) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 22/12/2018.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo bản án. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/6/2019, bị cáo Nguyễn Viết P kháng cáo kêu oan, cho là không có tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo P giữ nguyên nội dung kháng cáo, không nhận có hành vi giữ Bảo Ng từ ngày 01/12/2018 đến ngày 06/12/2018. Tham gia tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, như sau: Bị cáo đã không thừa nhận hành vi phạm tội như cấp sơ thẩm đã xét xử. Tuy nhiên, các chứng cứ thu thập là hợp pháp đã chứng minh bị cáo đã có hành vi xâm phạm đến thân thể và quyền tự do của Bảo Ng. Mẹ bị cáo đã làm chứng và khai như nội dung của Tòa án cấp sơ thẩm nhận định. Cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Giữ người trái pháp luật” và đã đánh giá nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo và tuyên mức hình phạt 5 năm tù là có căn cứ pháp luật. Do không có tình tiết gì mới tại cấp sơ thẩm, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Về tố tụng: Phiên tòa sơ thẩm xét xử vào ngày 18/6/2019. Ngày 21/6/2019, bị cáo Nguyễn Viết P kháng cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì kháng cáo trong hạn luật định, chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Về nội dung: [1] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo đều không nhận tội. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai tại các biên bản hỏi cung (BL 68-72) bị cáo khai nhận đã dùng dây xích khóa chân trái của Ng vào vách nhà, lấy dao cạo hết tóc trên đầu, dùng cán len bằng gỗ, dây cáp bằng kim loại đánh vào tay, chân, đầu của Ng gây thương tích và giữ Ng trong nhà từ ngày 01/12/2018 đến ngày 06/12/2018. Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của những người làm chứng bà Ngô Thị Hồng L (mẹ ruột bị cáo), Nguyễn Thị La Tr (chị ruột của bị cáo), Nguyễn Văn L (cháu của bị cáo). Lời khai của bị cáo còn phù hợp với bản ảnh hiện trường đã thể hiện những vật chứng mà bị cáo dùng để gây thương tích, giữ Ng trái pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Ngô Thị Hồng L có mặt và cũng đã khai rõ hành vi của bị cáo P như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm. Từ những chứng cứ trên đã kết luận được mặt khách quan của bị cáo về giữ Ng trái pháp luật.
Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi có ý thức và có ý chí, xâm phạm đến quyền tự do của Bảo Ng.
Hành vi của bị cáo P đủ yếu tố cấu thành tội “Giữ người trái pháp luật” như quyết định của cấp sơ thẩm.
Nội dung kháng cáo của bị cáo kêu oan là không căn cứ để xem xét. Quyết định của bản án sơ thẩm có căn cứ và đúng pháp luật, xét không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên án sơ thẩm như theo đề nghị của Kiểm sát viên.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, phải chịu án phí phúc thẩm theo pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 344, Điều 345, điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết P, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 40/2019/HS-ST ngày 18/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố L.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết P phạm tội “Giữ người trái pháp luật”;
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 157, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Nguyễn Viết P 05 (Năm) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 22/12/2018.
- Về án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Nguyễn Viết P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm 40/2019/HS-ST ngày 18/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Huỳnh Thanh Tâm Ng Thị Minh Phượng | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA La Hồng |