- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn D - Tàng trữ TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 05/11/2019tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:101/2019/HS - ST Ngày:20- 11 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Trần Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Hùng Hạnh.
Ông Ngụy Thanh Tuyên.
- Thư ký phiên tòa:Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trường-Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2019/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Hoàng Văn D; sinh năm 1986, tại huyện GT, tỉnh NĐ; nơi cư trú: Xóm 4 xã GL, huyện GT, tỉnh NĐ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn H, sinh năm 1954 và bà Trần Thị R, sinh năm 1965; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày23/8/2019 đến nay; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; “có mặt”.
Người làm chứng: Ông Hoàng Văn H; sinh năm 1954; địa chỉ: Xóm 4 xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23/8/2019, tổ công tác Công an xã Hoành Sơn, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực xóm 8 xã Hoành Sơn phát hiện Hoàng Văn D đang dừng xe máy kiểu dáng Dream màu nâu, không biển kiểm soát ở khu vực trước cổng đình làng Hoành Tứ (thuộc địa phận xóm 8 xã Hoành Sơn) có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra đối với D. Quá trình kiểm tra D tự giác giao nộp 01 gói nhỏ bên ngoài bọc bằng giấy báo, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, D khai là heroine vừa mua để sử dụng cho bản thân được niêm phong ký hiệu T. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của D 01 xe máy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang niêm phong vật chứng theo quy định bàn giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy tiếp tục điều tra, xử lý.
Ngày 23/8/2019, Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủyđã đưa 01 gói chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của D đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số:835/GĐKTHS ngày 24/8/2019của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Nam Định kết luận: “Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 (một) gói giấy báo được niêm phong ký hiệu T gửi giám định là ma túy. Loại ma túy heroine. Khối lượng mẫu T: 0,211gam”.
Tại Bản cáo trạng số:100/CT - VKS ngày 04/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố Hoàng Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên bản cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáoHoàng Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáoHoàng Văn Dtừ 18 tháng đến 24tháng tù.Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định.Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối vớibị cáo.
Tại phiên tòa,bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội vàkhông tranh luận gì.Trong lời nói sau cùng, bị cáo tỏ rõ ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáokhông có ý kiến hoặc khiếu nại gì; do đócác hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án như: lời khai của người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định số 835/GĐKTHS ngày 24/8/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định:Khoảng 08giờ 30 phút, ngày 23/8/2019 Hoàng Văn D đã có hành vi cất giấu trái phép01 gói ma túy có khối lượng mẫu là: 0,211gam nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân.Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố Hoàng Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ pháp luật
[3] Về tính nguy hiểm của hành vi: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gia tăng tội phạm hình sự, xâm phạm tới đạo đức và sức khỏe con người nhưng vẫn cố ý thực hiện.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ ăn năn hối cải, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, có như vậy mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đáp ứng công tác phòng chống tội phạm nói chung.
[6]Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sựquy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấybị cáo là người nghiện ma túy, điều kiện kinh tế khó khăn; vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Đối với heroinehoàn trả mẫu vật sau giám định cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy kiểu dáng Dream không có biển kiểm soát thu giữ của D, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của ông Hoàng Văn H (bố đẻ của D). Khi D mượn xe ông H không biết việc D sử dụng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy đã trả lại chiếc xe trên cho ông H là phù hợp.
[8] Về nguồn gốc sốheroine Hoàng Văn D cất giấu để sử dụng, D khai mua của một người đàn ông đứng ở khu vực chợ xã Giao Tiến với giá 200.000 đồng nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ và không nhớ đặc điểm của người đàn ông này. Quá trình điều tra không xác định được người đã bán heroine cho D nên cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy không có căn cứ để xử lý.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1Điều 249;điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luậtHình sự:Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn D 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày23/8/2019.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 05/11/2019tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Văn Dphải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:Bị cáoHoàng Văn D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Giao Thủy; - Chi cục THADS huyện Giao Thủy; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨMTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |